Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 600/2024/DS-PT

Ngày: 28/06/2024

V/v Tranh chấp hợp đồng

tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Quy

Các Thẩm phán: 1. Bà Lê Thị Mỹ Nhung

2. Bà Lê Thị Anh Minh

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy Tiên – Cán bộ

Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Đào Thị Ánh

Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 406/2024/TLPT-DS ngày 03 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Do Bản án sơ thẩm số 03/2024/DS-ST ngày 10/01/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Quận 8 - Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2604/2024/QĐ-PT ngày 14 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 7918/2024/QĐ-PT ngày 10 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng N

    Trụ sở: Số B đường L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.

    Địa chỉ liên hệ: Số D đường H, Phường D, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn – ông Nguyễn Vĩnh H, sinh năm 1982 là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày số 1467/GUQ-NHN0TB-THO ngày 11/10/2022). (có mặt)

  2. Bị đơn: Ông Võ Xuân V, sinh năm: 1973 (có mặt)

    Địa chỉ thường trú: Số F L, Phường I, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Địa chỉ cư trú: Số E P, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    1. Bà Lâm Thị T, sinh năm 1954

      Địa chỉ cư trú: Số E P, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

      Người đại diện hợp pháp của bà Lâm Thị T – ông Võ Xuân V, sinh năm 1973 là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 08/01/2024). (có mặt)

    2. Bà Trần Lâm Thùy T1, sinh năm 1981 (vắng mặt)

    3. Ông Trương Đình Dân A, sinh năm 2002 (vắng mặt)

    Cùng địa chỉ cư trú: Số E P, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 06/11/2019 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn Ngân hàng N có ông Nguyễn Vĩnh H là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

  • Ngân hàng N chi nhánh B - Phòng G và ông Võ Xuân V có ký Hợp đồng tín dụng số 1901-LAV-201300167 ngày 22/8/2013 để cho vay số tiền 2.000.000.000 đồng. Mục đích vay để bổ sung vốn kinh doanh vật liệu xây dựng. Thời hạn vay là 12 tháng. Phương thức cho vay là nhận nợ từng lần. Phương thức thanh toán lãi 02 tháng/lần và trả vốn vào cuối kỳ. Lãi suất trong hạn 11,5%/năm, lãi suất quá hạn phạt bằng 150% lãi suất trong hạn. Ngân hàng N đã giải ngân cho ông V số tiền 2.000.000.000 đồng theo giấy nhận nợ (lần 1) số GN: LDS-201300209 ngày 23/8/2013 và Giấy nhận nợ (lần 2) số GN: LDS-201300210 ngày 26/8/2013.

Tài sản đảm bảo cho khoản vay là: Nhà đất tại địa chỉ số E P, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc sở hữu của ông Võ Xuân V theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 1901-LCP-201300170 ngày 23/8/2013, được đăng ký thế chấp tại Văn phòng Đ ngày 23/8/2013.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Võ Xuân V chỉ thực hiện trả tiền lãi đến ngày 29/7/2015 thì ông V không thanh toán thêm bất cứ khoản nào cho tới nay dù Ngân hàng đã nhắc nhở, yêu cầu thanh toán. Ngày 25/8/2014, Ngân hàng N đã chuyển sang tính lãi quá hạn cho khoản nợ gốc.

Do vậy, Ngân hàng N yêu cầu bị đơn thanh toán các khoản nợ theo các Hợp đồng tín dụng số 1901-LAV-201300167 ngày 22/8/2013 tính đến ngày 10/01/2024 tổng số tiền là 5.299.316.743 đồng, trong đó: Nợ gốc 2.000.000.000 đồng và nợ lãi là 3.299.316.743 đồng.

Ông Võ Xuân V phải chịu các khoản lãi phát sinh trên số tiền dư nợ gốc kể từ ngày 11/01/2024 theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận theo Hợp đồng tín dụng số 1901-LAV-201300167 ngày 22/8/2013 đã ký giữa Ngân hàng N với ông V cho đến khi bị đơn thanh toán dứt nợ.

Trường hợp ông Võ Xuân V không trả hoặc trả nợ không đúng hạn và đầy đủ cho Ngân hàng số tiền nợ nêu trên thì Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý, phát mãi tài sản thế chấp là nhà đất tại địa chỉ số E P, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc sở hữu của ông Võ Xuân V theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 1901-LCP-201300170 ngày 23/8/2013.

Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý, phát mãi các tài sản thế chấp nêu trên không đủ thanh toán hết tổng số tiền nợ vay mà ông Võ Xuân V phải thanh toán thì ông V phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng nêu trên đến khi thanh toán xong các khoản nợ.

Nguyên đơn yêu cầu ông Võ Xuân V phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản tranh chấp và chi phí đo vẽ hiện trạng tài sản tranh chấp vì ông V là bên có lỗi trong vụ án này.

Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Võ Xuân V trình bày:

Vào năm 2013, thời điểm này ông Võ Xuân V phải thanh toán khoản nợ của các hợp đồng tín dụng trước đó và do nhà đất tại A N, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh bị giải tỏa và cưỡng chế thu hồi nhà và đất, không còn địa điểm kinh doanh nên đã ảnh hưởng đến khả năng thanh toán nợ của ông. Ngày 22/8/2013, ông V và Ngân hàng N – Chi nhánh B – Phòng G có ký Hợp đồng tín dụng số 1901-LAV- 201300167 với nội dung cụ thể như sau: Ngân hàng N cho ông Võ Xuân V vay số tiền 2.000.000.000 đồng; mục đích vay vốn: bổ sung vốn kinh doanh vật liệu xây dựng; thời hạn vay: 12 tháng. Việc giải ngân số tiền vay thì ông không nhớ rõ đã nhận tiền như thế nào. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông V xác nhận có trả liền lãi nhưng không nhớ cụ thể số tiền đã trả.

Ông Võ Xuân V đã dùng tài sản là nhà và đất tại địa chỉ số E P, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc sở hữu của ông theo Hợp đồng tặng cho nhà số 041336/HĐ-TCN ngày 17/11/2008 tại Phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh thế chấp để đảm bảo cho khoản vay trên. Tuy nhiên, ông V cho rằng tài sản thế chấp là căn nhà số E P, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh được ghi trong Hợp đồng thế chấp số 1901-LCP-201300170 ngày 23/8/2013 là không đúng vì từ trước đến nay căn nhà này đều tọa lạc tại địa chỉ số E P, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Đồng thời, căn nhà tại thời điểm thế chấp đã có hiện trạng là 03 tầng và 01 lửng nhưng trong Hợp đồng thế chấp lại ghi nhận hiện trạng cũ là 4m x 16,6m, chiều cao là 3,3m; kết cấu: vách gạch, mái lợp bằng đúc, 01 trệt + 01 lầu là không đúng thực tế.

Nay, ông Võ Xuân V không đồng ý trả khoản nợ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số 1901- LAV- 201300167 ký ngày 22/8/2013 ký kết giữa ông và Ngân hàng N. Đồng thời, ông yêu cầu tòa án tuyên hủy hợp đồng tín dụng số 1901-LAV-201300167 ngày 22/8/2013 do đây là hợp đồng giả cách để hoán đổi số nợ mà ông vay trước đó (vào năm 2013) vì thực chất ông không nhận số tiền nợ này; yêu cầu tòa án tuyên hủy Hợp đồng thế chấp tài sản số 1901-LCP-201300170 ngày 23/8/2013 do trái với quy định pháp luật và tài sản thế chấp không phù hợp với hiện trạng thực tế; yêu cầu tòa án buộc Ngân hàng N giao trả toàn bộ bản chính giấy tờ sở hữu của căn nhà số E P, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh cho ông gồm: Giấy bán nhà ngày 02/10/1981; Giấy phép số 389/GP-7 ngày 05/02/1982; Hợp đồng tặng cho nhà số 041336/HĐ-TCN ngày 17/11/2008 được chứng thực tại Phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh; Thông báo nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất số 9882/CCT-TBạ và Thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà đất.

Ông Võ Xuân V không đồng ý chịu các chí phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản tranh chấp và chi phí đo vẽ hiện trạng tài sản tranh chấp vì ông chưa nhận được các bản vẽ này.

Tại Bản án sơ thẩm số 03/2024/DS-ST ngày 10/01/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Quận 8 - Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng N.

Buộc ông Võ Xuân V có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng N số tiền còn nợ của Hợp đồng tín dụng số 1901-LAV-201300167 ngày 22/8/2013 kèm Giấy nhận nợ (lần 1) số GN: LDS-201300209 ngày 23/8/2013 và Giấy nhận nợ (lần 2) số GN: LDS-201300210 ngày 26/8/2013 tính đến ngày 10/01/2024 là 5.299.316.743 (Năm tỷ, hai trăm chín mươi chín triệu, ba trăm mười sáu ngàn, bảy trăm bốn mươi ba) đồng, trong đó nợ gốc 2.000.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 2.220.522.223 đồng, nợ lãi quá hạn là 1.078.794.520 đồng, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày 11/01/2024 ông Võ Xuân V còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 1901-LAV-201300167 ngày 22/8/2013 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ cho Ngân hàng N.

Sau khi ông Võ Xuân V thanh toán dứt điểm các khoản nợ trên, Ngân hàng N phải trả lại cho ông Võ Xuân V bản chính các tài liệu, giấy tờ sau: Giấy bán nhà ngày 02/10/1981; Giấy phép số 389/GP-7 ngày 05/02/1982; Hợp đồng tặng cho nhà số 041336/HĐ-TCN ngày 17/11/2008 được chứng thực tại Phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh; Thông báo nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất số 9882/CCT-TBạ và Thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà đất.

Trường hợp ông Võ Xuân V không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ, thì Ngân hàng N được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là nhà đất tại số E P, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc sở hữu của ông Võ Xuân V theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 1901-LCP-201300170 ngày 23/8/2013 để thu hồi nợ.

2. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn - ông Võ Xuân V, cụ thể: Yêu cầu hủy hợp đồng tín dụng số 1901-LAV-201300167 ngày 22/8/2013; Yêu cầu hủy hợp đồng thế chấp tài sản số 1901-LCP-201300170 ngày 23/8/2013; Yêu cầu Ngân hàng N giao trả toàn bộ bản chính các giấy tờ, tài liệu gồm: Giấy bán nhà ngày 02/10/1981; Giấy phép số 389/GP-7 ngày 05/02/1982; Hợp đồng tặng cho nhà số 041336/HĐ-TCN ngày 17/11/2008 được chứng thực tại Phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh; Thông báo nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất số 9882/CCT-TBạ và Thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà đất cho đương sự.

Các bên thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự theo luật quy định.

Ngày 18/01/2024, ông Võ Xuân V, bà Lâm Thị T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị đơn ông Võ Xuân V đồng thời là đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét hủy Bản án sơ thẩm số 03/2024/DS-ST ngày 10/01/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh và chuyển lại cho Tòa án nhân dân Quận 8 giải quyết lại vụ án.

Ông Võ Xuân V trình bày: Tại nhà đất số E P, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh chỉ có ông và bà T ở, ngoài ra không có ai khác.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 03/2024/DS-ST ngày 10/01/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

Các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ quy định Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 trong quá trình thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 giữ nguyên bản án sơ thẩm; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Tòa án nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thời hạn kháng cáo: Ngày 10 tháng 01 năm 2024, Tòa án nhân dân Quận 8 tuyên án, bị đơn ông Võ Xuân V đồng thời là đại diện theo ủy quyền của bà Lâm Thị T có mặt khi tuyên án. Ngày 18 tháng 01 năm 2024, ông V và bà T có đơn kháng cáo. Căn cứ khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đơn kháng cáo của đương sự còn trong thời hạn kháng cáo theo quy định nên được chấp nhận xem xét.

[1.2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Trần Lâm Thùy T1 và ông Trương Đình Dân A đã được Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không rõ lý do. Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt họ.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét kháng cáo của ông Võ Xuân V yêu cầu hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận 8, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Giữa nguyên đơn và bị đơn có ký Hợp đồng tín dụng số 1901-LAV-201300167 ngày 22/8/2013 có nội dung: Nguyên đơn cho bị đơn vay số tiền là 2.000.000.000 đồng, mục đích vay để bổ sung vốn kinh doanh vật liệu xây dựng, thời hạn vay là 12 tháng kể từ ngày 23 tháng 8 năm 2023, cho vay có bảo đảm bằng tài sản là bất động sản, giá trị tài sản bảo đảm là 3.000.000.000 đồng, phương thức cho vay là nhận nợ từng lần, phương pháp trả lãi tiền vay theo định kỳ 02 tháng/lần, nếu bị đơn quá hạn tối đa 3 kỳ thì nguyên đơn có quyền xử lý phát mại tài sản để thu hồi nợ trước hạn hợp đồng; phương thức và kỳ hạn trả gốc vào cuối kỳ, lãi suất trong hạn 11,5%/năm, lãi suất quá hạn phạt bằng 150% lãi suất trong hạn. Ông V đã ký Giấy nhận nợ ngày 23/8/2013 để nhận số tiền nợ là 400.000.000 đồng và Giấy nhận nợ ngày 26/8/2013 để nhận số tiền nợ là 1.600.000.000 đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông V đã thanh toán tiền lãi đến ngày 29/7/2015 thì ngưng không thanh toán nữa.

Về hình thức, hợp đồng được lập thành văn bản có đầy đủ chữ ký xác nhận của các bên. Về nội dung của hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ được ký kết với sự thỏa thuận của các bên, có đầy đủ các nội dung tối thiểu theo quy định. Như vậy hình thức và nội dung thỏa thuận của các bên không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội phù hợp với quy định các Điều 474, Điều 474, Điều 478 của Bộ luật dân sự năm 2005 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, nên có giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành đối với các bên. Trong quá trình vay vốn, ông V đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, số tiền nợ gốc ông V còn nợ Ngân hàng N theo hợp đồng là 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng). Hội đồng xét xử nhận thấy, bị đơn đã vi phạm thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng tín dụng đã ký kết. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng N là có cơ sở để chấp nhận.

Do ông Võ Xuân V vi phạm nghĩa vụ thanh toán lãi và không thanh toán nợ gốc đúng hạn, nên từ ngày 25/8/2014 thì Ngân hàng N đã chuyển sang tính lãi quá hạn đối với toàn bộ số tiền nợ gốc của Hợp đồng tín dụng số 1901-LAV-201300167 ngày 22/8/2013 là phù hợp quy định tại Điều 2 của Hợp đồng tín dụng số 1901-LAV-201300167 ngày 22/8/2013 mà các bên đã ký; đúng quy định pháp luật tại Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 nên Tòa án nhân dân Quận 8 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.

Về yêu cầu buộc ông Võ Xuân V phải thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ ngày 11/01/2024 cho đến ngày ông V trả hết nợ theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng đã ký kết là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân Quận 8 chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp.

Ông Võ Xuân V có yêu cầu phản tố yêu cầu tuyên bố hợp đồng tín dụng số 1901-LAV-201300167 ngày 22/8/2013 vô hiệu do đây là hợp đồng giả cách để hoán đổi số nợ mà ông vay trước đó (vào năm 2013), ông không nhận tiền theo hợp đồng này. Tuy nhiên, theo Giấy nhận nợ (lần 1) ngày 23/8/2013 ông V đã nhận số tiền nợ là 400.000.000 đồng và Giấy nhận nợ (lần 2) ngày 26/8/2013 ông đã nhận số tiền nợ là 1.600.000.000 đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông V đã thực hiện việc trả lãi đến tháng 7/2015. Do vậy, ông V cho rằng ông không nhận tiền vay và hợp đồng tín dụng ký giữa Ngân hàng N với ông là hợp đồng giả cách và yêu cầu Tòa tuyên bố hợp đồng tín dụng số 1901-LAV-201300167 ngày 22/8/2013 vô hiệu là không có cơ sở nên Tòa án nhân dân Quận 8 không chấp nhận yêu cầu của ông là phù hợp.

[2.2] Xét kháng cáo của ông Võ Xuân V, bà Lâm Thị T yêu cầu hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận 8 vì không đưa Giám đốc Ngân hàng A1; không đưa cán bộ thẩm định tài sản; không đưa Văn phòng đăng ký đất đai Quận H,Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố H và Phòng Công chứng số 4 Thành phố C vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo quy định tại khoản 4 Điều 68 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 thì “Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”. Trong vụ án này, các đương sự mà ông V, bà T yêu cầu triệu tập vào tham gia vụ án không có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nên Tòa án nhân dân Quận 8 không triệu tập họ vào tham gia tố tụng là đúng quy định.

[2.3] Xét kháng cáo của ông Võ Xuân V cho rằng Tòa án nhân dân Quận 8 triệu tập bà Trần Lâm Thùy T1 và ông Trương Đình Dân A vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là không phù hợp, Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo kết quả xác minh của Công an P, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện bà Lâm Thị T, bà Trần Lâm Thùy T1 và ông Trương Đình Dân A đang cư trú tại tài sản bảo đảm là nhà đất tọa lạc tại địa chỉ số E P, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Xét thấy việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của bà Trần Lâm Thùy T1 và ông Trương Đình D Anh nên Tòa án nhân dân Quận 8 triệu tập bà Trần Lâm Thùy T1 và ông Trương Đình Dân A vào tham gia tố tụng là phù hợp.

Xét lời đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

[3] Án phí dân sự sơ thẩm: Các đương sự phải chịu án phí dân sự theo quy định.

[4] Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Võ Xuân V phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; bà Lâm Thị T thuộc trường hợp được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Khoản 4 Điều 68, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
  • Điểm a khoản 1 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019;
  • Điều 474, Điều 474, Điều 478 của Bộ luật dân sự năm 2005;
  • Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Võ Xuân V, bà Lâm Thị T.

Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 03/2024/DS- ST ngày 10/01/2024 của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng N.

    Buộc ông Võ Xuân V có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng N số tiền còn nợ của Hợp đồng tín dụng số 1901-LAV-201300167 ngày 22/8/2013 kèm giấy nhận nợ (lần 1) số GN: LDS-201300209 ngày 23/8/2013 và Giấy nhận nợ (lần 2) số GN: LDS-201300210 ngày 26/8/2013 tính đến ngày 10/01/2024 là 5.299.316.743 (Năm tỷ hai trăm chín mươi chín triệu ba trăm mười sáu ngàn bảy trăm bốn mươi ba) đồng, trong đó nợ gốc 2.000.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 2.220.522.223 đồng, nợ lãi quá hạn là 1.078.794.520 đồng, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    Kể từ ngày 11/01/2024 ông Võ Xuân V còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 1901-LAV-201300167 ngày 22/8/2013 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ cho Ngân hàng N.

    Sau khi ông Võ Xuân V thanh toán dứt điểm các khoản nợ trên, Ngân hàng N phải trả lại cho ông Võ Xuân V bản chính các tài liệu, giấy tờ sau: Giấy bán nhà ngày 02/10/1981; Giấy phép số 389/GP-7 ngày 05/02/1982; Hợp đồng tặng cho nhà số 041336/HĐ-TCN ngày 17/11/2008 được chứng thực tại Phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh; Thông báo nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất số 9882/CCT-TBạ và Thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà đất.

    Trường hợp ông V không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ, thì Ngân hàng N được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là nhà đất tại số E P, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc sở hữu của ông Võ Xuân V theo Hợp đồng thế tài sản số 1901-LCP-201300170 ngày 23/8/2013 để thu hồi nợ.

  2. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn - ông Võ Xuân V, cụ thể: Yêu cầu hủy hợp đồng tín dụng số 1901-LAV-201300167 ngày 22/8/2013; Yêu cầu hủy hợp đồng thế chấp tài sản số 1901-LCP-201300170 ngày 23/8/2013; Yêu cầu Ngân hàng N giao trả toàn bộ bản chính các giấy tờ, tài liệu gồm: Giấy bán nhà ngày 02/10/1981; Giấy phép số 389/GP-7 ngày 05/02/1982; Hợp đồng tặng cho nhà số 041336/HĐ-TCN ngày 17/11/2008 được chứng thực tại Phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh; Thông báo nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất số 9882/CCT-TBạ và Thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà đất cho đương sự.

  3. Ông Võ Xuân V phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 4.000.000 đồng và chi phí đo vẽ hiện trạng tài sản là 4.500.000 đồng, số tiền tổng cộng là 8.500.000 đồng. Ông V phải hoàn lại cho Ngân hàng N số tiền 8.500.000 (tám triệu năm trăm ngàn) đồng, thực hiện ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    Ngân hàng N phải chịu chi phí đo vẽ hiện trạng tài sản là 4.500.000 (bốn triệu năm trăm ngàn) đồng.

  4. Án phí dân sự sơ thẩm:

    Ông Võ Xuân V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 113.899.317 (một trăm mười ba triệu, tám trăm chín mươi chín ngàn, ba trăm mười bảy) đồng, nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 600.000 đồng theo biên lai thu số 0036056 ngày 08/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8. Ông V còn phải nộp thêm số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 113.299.317 (một trăm mười ba triệu, hai trăm chín mươi chín ngàn, ba trăm mười bảy) đồng.

    H1 lại số tiền tạm ứng án phí là 54.489.450 (năm mươi bốn triệu, bốn trăm tám mươi chín ngàn, bốn trăm năm mươi) đồng cho Ngân hàng N theo biên lai thu số AA/2018/0039760 ngày 09/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  5. Án phí dân sự phúc thẩm:

    Ông Võ Xuân V phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai thu số AA/2023/0036616 ngày 22/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8.

    Bà Lâm Thị T không phải chịu án phí án phí dân sự phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận

  • - TAND Tối cao;
  • - TAND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - Cục THADS TP.HCM;
  • - TAND Quận 8;
  • - Chi cục THADS Quận 8;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP (T/20).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Kim Quy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 600/2024/DS-PT ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 600/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng do bị đơn vi phạm thoả thuận trả tiền
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger