|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG Bản án số: 600/2025/DS-PT Ngày: 09 - 12 - 2025 V/v Tranh chấp về đòi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Trang.
Các Thẩm phán: Ông Ngô Đê;
Ông Nguyễn Văn Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Tín - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Trần Ngọc Bích - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 368/2025/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2025 về “Tranh chấp về đòi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 60/2025/DS-ST ngày 12 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5 - Vĩnh Long) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 505/2025/QĐ-PT ngày 21 tháng 10 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 284/2025/QĐ-PT ngày 17 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Hà Trương Như L, sinh năm 1983; (có mặt)
Địa chỉ: Số A khu phố B, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre (nay là phường P, tỉnh Vĩnh Long).
- Bị đơn: Bà Trần Yến K, sinh năm 1979;
Địa chỉ: B, khu phố C, phường G, thành phố B, tỉnh Bến Tre (nay là phường B, tỉnh Vĩnh Long). (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Nguyễn Bá K1 - Luật sư Công ty L1, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H. (có mặt)
Địa chỉ: P, lầu G, số C Đ, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Đặng Thanh T, sinh năm 1991;
Địa chỉ: Số D, khu phố F, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre (nay là phường P, tỉnh Vĩnh Long).
2. Bà Đặng Thanh V, sinh năm 1983;
Địa chỉ: Số D, khu phố F, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre (nay là phường P, tỉnh Vĩnh Long).
3. Bà Nguyễn Thị Phương H, sinh năm 1958;
Địa chỉ: Số D, khu phố F, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre (nay là phường P, tỉnh Vĩnh Long).
Người đại diện theo ủy quyền của bà Đặng Thanh T, bà Đặng Thanh V và bà Nguyễn Thị Phương H:
Ông Trần Quốc Đ, sinh năm 1992; (có mặt)
Địa chỉ: 4.08 Lô B, chung cư T, khu phố B, phường P, thành phố T (nay là phường L), thành phố Hồ Chí Minh.
- Người kháng cáo: Bà Hà Trương Như L, là nguyên đơn và bà Nguyễn Thị Phương H, là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung bản án sơ thẩm,
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Hà Trương Như L trình bày:
Trước đây, bà Hà Trương Như L và bà Trần Yến K có thực hiện giao dịch vay tiền. Để hợp thức hóa khoản vay này, hai bên đã thỏa thuận lập hợp đồng giả cách chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 124, tờ bản đồ số 39, tọa lạc tại phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Cụ thể:
Ngày 25/12/2020, hai bên đã ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên, trên thực tế là nhằm bảo đảm cho khoản vay 1.000.000.000 đồng.
Thửa đất số 124 có diện tích 234,6m², mục đích sử dụng là đất ở đô thị, thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Hà Trương Như L theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là GCNQSDĐ) số BY975667 do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày 27/4/2015.
Ngày 08/02/2021, bà Hà Trương Như L và bà Trần Yến K đã thống nhất ký kết hợp đồng hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 124, qua đó khẳng định rõ đây là hợp đồng giả cách và được các bên tự nguyện hủy bỏ.
Sau khi hợp đồng bị hủy, do GCNQSDĐ cũ bị rách, bà Hà Trương Như L đã thực hiện thủ tục cấp đổi. Văn phòng Đăng ký đất đai đã cấp GCNQSDĐ mới số CY397918 ngày 25/02/2021 đứng tên bà.
Tuy nhiên, mặc dù giao dịch đã bị hủy bỏ, bà Trần Yến K vẫn cố tình giữ lại GCNQSDĐ đối với thửa đất số 124 mà không có bất kỳ căn cứ pháp lý nào. Việc chiếm giữ này là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của bà Hà Trương Như L.
Đối với thửa đất số 126, tờ bản đồ số 39, vào ngày 23/01/2021, bà Hà Trương Như L và bà Trần Yến K tiếp tục thực hiện một thỏa thuận vay tiền khác. Theo đó, hai bên tiếp tục lập hợp đồng chuyển nhượng đất với bản chất là giao dịch bảo đảm. Sau đó, bà Hà Trương Như L được cấp GCNQSDĐ số CY397763 ngày 05/02/2021, diện tích 553,6m², mục đích sử dụng là đất ở đô thị, đứng tên bà.
Sau đó, hai bên đã thỏa thuận hủy bỏ toàn bộ các giao dịch liên quan đến thửa đất số 126. Tuy nhiên, cũng như đối với thửa đất số 124, bà Trần Yến K vẫn giữ lại GCNQSDĐ dù không còn bất kỳ quyền hoặc lý do chính đáng nào.
Tại Biên bản hòa giải ngày 26/9/2022 và Biên bản giao nộp chứng cứ ngày 22/11/2022 trong một vụ án dân sự khác giữa hai bên, bà Trần Yến K đã thừa nhận đang giữ hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên. Điều này thể hiện rõ hành vi cố ý chiếm giữ giấy tờ, dù biết rõ nghĩa vụ hoàn trả và không có quyền sở hữu hay sử dụng đối với các tài sản này.
Từ các căn cứ nêu trên, bà Hà Trương Như L đề nghị Tòa án xem xét, buộc bà Trần Yến K phải trả lại cho bà hai Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà đứng tên, gồm:
- - GCNQSDĐ thửa đất số 124, tờ bản đồ số 39, số CY397918 do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B cấp ngày 25/02/2021;
- - GCNQSDĐ thửa đất số 126, tờ bản đồ số 39, số CY397763 do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B cấp ngày 05/02/2021.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Hà Trương Như L khẳng định rằng yêu cầu khởi kiện của bà chỉ giới hạn trong việc đòi lại hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên, không phát sinh tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đối với hai thửa đất này.
Ngoài ra, tại phiên tòa ngày 05/5/2025, bà Hà Trương Như L có yêu cầu khởi kiện bổ sung, đề nghị Tòa án tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do bà Nguyễn Thị Phương H sử dụng giấy ủy quyền của bà để ký ngày 17/3/2021, liên quan đến hai thửa đất nêu trên.
Tại bản tự khai, biên bản hòa giải, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Trần Yến K trình bày:
Trong thời gian qua, thông qua việc tiếp xúc nhiều lần tại quán C1 (do bà K làm chủ, địa chỉ: B H, khu phố D, thành phố B), bà Hà Trương Như L đã chủ động làm quen và tạo dựng mối quan hệ thân thiết với bà K. Bà L giới thiệu rằng bản thân có mối quan hệ rộng với các “sếp lớn”, đang tham gia góp vốn làm dịch vụ đáo hạn ngân hàng, mang lại lợi nhuận cao. Bà L đề nghị bà K cho vay tiền với lãi suất 5%/tháng.
Trước yêu cầu về tài sản đảm bảo cho khoản vay, bà L cam kết sở hữu nhiều quyền sử dụng đất tại thành phố B và đã đưa bà K xem các GCNQSDĐ mang tên mình, trong đó có thửa đất số 124 và 126, tờ bản đồ số 39 tại phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
Tin tưởng vào tài sản và các cam kết của bà L, bà K đồng ý cho bà L vay tiền nhiều lần, cụ thể:
Đối với thửa đất số 124: Bà K đã cho bà L vay tổng cộng 5.500.000.000 đồng. Để đảm bảo cho khoản vay này, hai bên lập các tờ “Thỏa thuận và nhận tiền mua bán đất” vào các ngày 20/3/2020 và 04/9/2020, với nội dung thể hiện việc bà L chuyển nhượng thửa đất số 124 cho bà K, tương ứng với số tiền vay.
Đối với thửa đất số 126: Bà K cho vay 10.500.000.000 đồng, và tương tự, hai bên tiếp tục lập các thỏa thuận vào ngày 20/3/2020 và 09/9/2020.
Ngày 24/3/2020, bà L và bà K ký kết hai hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với hai thửa đất nêu trên tại Văn phòng C2, tỉnh Bến Tre. Bà L giao bản chính hai GCNQSDĐ cho bà K giữ như một biện pháp bảo đảm cho các khoản vay.
Từ thời điểm nhận tiền, bà L có thanh toán tiền lãi đến cuối năm 2020, sau đó thì ngưng hoàn toàn và không thanh toán nợ gốc. Đầu năm 2021, bà K phát hiện các quyền sử dụng đất nêu trên thực chất không thuộc quyền định đoạt của bà L, mà bà L chỉ là người đứng tên dùm cho bà Nguyễn Thị Phương H, theo Văn bản thỏa thuận nhờ đứng tên ngày 18/4/2018, được lập tại Phòng C3 tỉnh Bến Tre. Văn bản này xác nhận rõ bà L không có quyền chuyển nhượng, thế chấp các thửa đất nói trên.
Khi sự việc bị phát hiện, bà L đã đề nghị bà K hỗ trợ bằng cách hủy hợp đồng chuyển nhượng đối với thửa 124, đồng thời sang tên lại thửa 126 để bà L có thể vay ngân hàng, cam kết sẽ giải ngân khoản vay trực tiếp vào tài khoản của bà K. Vì tin tưởng, bà K đồng ý, và hai bên ký Tờ cam kết ngày 18/01/2021. Cũng trong ngày này, bà K tiếp tục cho bà L vay thêm 2.000.000.000 đồng.
Tổng cộng, bà L đã vay của bà K số tiền là 18.000.000.000 đồng, liên quan đến hai thửa đất nêu trên.
Tuy nhiên, sau khi bà K thực hiện đúng các thỏa thuận hỗ trợ như cam kết, bà L không những không hoàn trả khoản vay mà còn khởi kiện yêu cầu trả lại các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trước đó, bà L cũng đã khởi kiện vụ án khác, yêu cầu bà K hoàn trả khoản tiền được cho là “chuyển nhầm”, hiện đang được TAND thành phố Bến Tre thụ lý tại hồ sơ số 107/2021/TLST-DS ngày 04/5/2021.
Bà K cho rằng, việc liên tiếp khởi kiện của bà L là thủ đoạn nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ, có dấu hiệu của hành vi chiếm đoạt tài sản.
Hiện tại, hai GCNQSDĐ nêu trên đã được bà K giao lại cho bà Nguyễn Thị Phương H là người chủ sử dụng thực sự của các phần đất nêu trên đồng thời là người được bà L ủy quyền. Sau đó, bà H đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người thứ ba (bà V và bà T).
Do đó, các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đối tượng khởi kiện hiện không còn thuộc quyền quản lý của bà K. Vì vậy, bà K đề nghị Tòa án không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hà Trương Như L.
Tại bản tự khai, biên bản hòa giải, quá trình giải quyết vụ án, văn bản yêu cầu giải quyết vắng mặt, người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Phương H là ông Trần Hoàng D trình bày:
Bà H xác định không có liên quan gì trong vụ án này và cũng không có yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì liên quan đến bà H trong vụ án này.
Tại bản tự khai, biên bản hòa giải, quá trình giải quyết vụ án, văn bản yêu cầu giải quyết vắng mặt, người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà bà Đặng Thanh T, bà Đặng Thanh V là bà Phạm Thị Lợi C trình bày:
Bà T, bà V hoàn toàn không biết giao dịch giữa bà K và bà L. Ngoài ra, bà T, bà V không có ý kiến gì khác.
Do hòa giải không thành, Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5 - Vĩnh Long) đưa vụ án ra xét xử.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 60/2025/DS-ST ngày 12 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5 - Vĩnh Long) quyết định (tóm tắt):
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà H Trương Như L về việc buộc bị đơn bà Trần Yến K trả lại các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau:
- - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY397918, thửa đất số 124, tờ bản đồ số 39, địa chỉ tại phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 25/02/2021, đứng tên bà Hà Trương Như L;
- - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY397763, thửa đất số 126, tờ bản đồ số 39, địa chỉ tại phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 05/02/2021, đứng tên bà Hà Trương Như L.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng khác, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 22/5/2025, nguyên đơn bà H Trương Như L có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm. Ngày 11/11/2025, bà L có đơn kiến nghị đề nghị hủy án sơ thẩm do xác định sai quan hệ pháp luật, chưa hướng dẫn bà bổ sung yêu cầu khởi kiện, đề nghị cho phép bà bổ sung yêu cầu khởi kiện tại phúc thẩm hoặc trong phiên xét xử buộc bà Trần Yến K phải bồi thường thiệt hại cho bà do hành vi lạm dụng tín nhiệm để hưởng lợi trái pháp luật.
Ngày 26/5/2025, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Phương H có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm do Tòa án sơ thẩm do không hướng dẫn giải thích quyền và nghĩa vụ, vi phạm thủ tục tố tụng, không xem xét quyền lợi của bà.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn không rút đơn kháng cáo.
Bị đơn bà Trần Yến K có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn trình bày quan điểm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn và đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bà L và bà H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thanh T, bà Đặng Thanh V và bà Nguyễn Thị Phương H là ông Trần Quốc Đ trình bày: Bà H giữ nguyên kháng cáo, đề nghị hủy bản án sơ thẩm. Bà T và bà V đồng ý với kháng cáo của bà H và không có ý kiến đối với kháng cáo của bà L.
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, giữ nguyên bản án sơ thẩm, bác kháng cáo của bà L và bà H.
Áp dụng khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để xác định án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên; xét kháng cáo của nguyên đơn bà H Trương Như L và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Phương H, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Bà Hà Trương Như L và bà Nguyễn Thị Phương H kháng cáo và thực hiện thủ tục kháng cáo hợp lệ, trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Bà Trần Yến K có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Trần Yến K.
[1.3] Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự thì hiện nay thửa đất 124 và thửa đất 126 tờ bản đồ số 39, đứng tên bà Hà Trương Như L, đã được bà Nguyễn Thị Phương H (theo ủy quyền của bà L) thực hiện thủ tục chuyển nhượng lại cho bà V và bà T, bà T đã chuyển quyền sử dụng đất lại cho bà Đặng Mỹ D1, sinh năm 1963, địa chỉ D, khu phố F, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre (BL 166, 187).
Tuy nhiên, trong vụ án này, chỉ có bà L khởi kiện yêu cầu đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, các đương sự không có tranh chấp gì liên quan đến thửa đất hoặc các giao dịch liên quan các thửa đất cũng như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà D1, việc giải quyết vụ án không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà D1 nên Tòa án sơ thẩm không đưa bà D1 tham gia tố tụng là không trái quy định pháp luật.
[1.4] Bà Hà Trương Như L có Đơn yêu cầu thu thập chứng cứ nộp trực tiếp tại Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long vào ngày 05 tháng 11 năm 2025, nội dung trình bày bà Trần Yến K đang được giám định tâm thần trong vụ án khác do Công an tỉnh V giải quyết và yêu cầu thu thập bản sao kết luận giám định hoặc yêu cầu bị đơn cung cấp bản sao hợp pháp kết luận đó. Tuy nhiên, theo quy định pháp luật, Tòa án không sử dụng kết luận giám định của vụ án khác để làm cơ sở giải quyết vụ án này nên Tòa án không thu thập chứng cứ theo Đơn yêu cầu thu thập chứng cứ của bà L là đúng quy định.
[1.5] Ngày 07/11/2025, bà Hà Trương Như L có Đơn sửa đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện gửi qua dịch vụ bưu chính viễn thông, nội dung bổ sung yêu cầu khởi kiện mới là đề nghị Tòa án buộc bà Trần Yến K phải bồi thường toàn bộ thiệt hại thực tế do hành vi lạm dụng tín nhiệm, nhận tiền trái phép khi giao 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gây ra, đề nghị hủy hoặc sửa án sơ thẩm để bảo vệ quyền lợi của bà và cho rằng Tòa án sơ thẩm không hướng dẫn bà khởi kiện bổ sung mà bác đơn khởi kiện của bà, bỏ sót biên bản hòa giải, không công khai chứng cứ...là vi phạm tố tụng.
Theo Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về phạm vi xét xử phúc thẩm quy định: “Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại phần của bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị.”. Đồng thời, căn cứ vào quy định về thẩm quyền của Hội đồng xét xử tại Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận việc khởi kiện bổ sung của bà L.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Hà Trương Như L, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1.1] Theo đơn khởi kiện, bà L khởi kiện yêu cầu bà K trả các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau:
- - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY397918, thửa đất số 124, tờ bản đồ số 39, địa chỉ tại phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 25/02/2021 cho bà Hà Trương Như L;
- - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY397763, thửa đất số 126, tờ bản đồ số 39, địa chỉ tại phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 05/02/2021 cho bà Hà Trương Như L.
Bà K không đồng ý vì cho rằng đã trả các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên cho bà H thay cho bà L.
Tại Biên bản phiên tòa sơ thẩm ngày 06/5/2024, bà L có lời trình bày lý do bà đưa 02 sổ đỏ (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) cho bà K là do ngày 02/3/2021, bà với bà H có mâu thuẫn nên bà K nói bà K chịu trách nhiệm với 02 cuốn sổ đỏ và bà K đưa sổ cho bà H thay bà, bà đồng ý bà K sẽ trả sổ cho bà H thay bà.
Tại Biên bản hòa giải ngày 21/11/2024, bà H thừa nhận bà đã nhận lại 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 124, 126 trực tiếp từ bà K vào ngày 17/3/2021 và có đưa 10.000.000.000 (mười tỉ) đồng theo yêu cầu của bà K.
Như vậy, chính bà L thừa nhận bà giao 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà K để bà K giao lại cho bà H và bà H cũng thừa nhận đã nhận 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ bà K.
Trong quá trình giải quyết vụ án, cả bà Trần Yến K và bà Nguyễn Thị Phương H đều không có bất kỳ yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập hay đề nghị nào liên quan đến khoản tiền 10.000.000.000 (mười tỉ) đồng mà bà H đưa cho bà K.
Tại Biên bản hòa giải ngày 07/3/2025 (BL 361), người đại diện theo ủy quyền của bà H trình bày bà H không có liên quan gì trong vụ án này và cũng không có yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì liên quan đến bà H trong vụ án này.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà L và người đại diện theo ủy quyền của bà H đều thừa nhận hiện nay bà H đã nhận các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ bà K nhưng lúc bà K đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H thì bà H đã phải đưa cho bà K 10.000.000.000 (mười tỉ) đồng.
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa sơ thẩm (lời trình bày của ông K1 với tư cách người đại diện theo ủy quyền của bà K và lời trình bày của bà L tại Biên bản phiên tòa sơ thẩm ngày 06/5/2024 - bút lục 439, 443) và phiên tòa phúc thẩm thì hiện nay thửa 124 và thửa 126 tờ bản đồ số 39, đứng tên bà Hà Trương Như L, đã được bà Nguyễn Thị Phương H (theo ủy quyền của bà L) thực hiện thủ tục chuyển nhượng lại cho người thứ ba là bà V và bà T, bà T đã chuyển quyền sử dụng đất lại cho bà Đặng Mỹ D1, sinh năm 1963, địa chỉ D, khu phố F, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre (BL 166, 187).
Tại khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013và khoản 2 Điều 152 Luật Đất đai năm 2024quy định Nhà nước thu hồi giấy chứng nhận đã cấp trong các trường hợp sau đây:
“...- Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất mà phải cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đấtquyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;...”.
Như vậy, theo quy định của pháp luật về đất đai, khi chủ sử dụng đất đăng ký biến động đất đai thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của người chuyển quyền sẽ bị cơ quan có thẩm quyền thu hồi để cấp mới cho người nhận chuyển quyền. Do đó, hai Giấy chứng nhận mà nguyên đơn yêu cầu bị đơn hoàn trả đã không còn tồn tại về mặt pháp lý. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L là có cơ sở.
[2.1.2] Theo bản kiến nghị đề ngày 11/11/2025, bà L đề nghị hủy bản án sơ thẩm do xác định sai quan hệ pháp luật, chưa hướng dẫn bà bổ sung yêu cầu khởi kiện, đề nghị cho phép bà bổ sung yêu cầu khởi kiện tại cấp phúc thẩm hoặc trong phiên xét xử, buộc bà Trần Yến K phải bồi thường thiệt hại cho bà do hành vi lạm dụng tín nhiệm để hưởng lợi trái pháp luật.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Bà L khởi kiện yêu cầu bà K trả 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết và xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp về đòi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” là phù hợp.
Tại khoản 1 Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định:
“Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó.”. Theo Đơn khởi kiện ngày 09/9/2024, bà L chỉ yêu cầu bà K trả 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ngoài ra không có yêu cầu gì khác. Tại Biên bản làm việc ngày 23/9/2024 (BL 29), bà L có trình bày bà L đã được giải thích về việc yêu cầu khởi kiện bổ sung trong vụ án tranh chấp giữa bà L với bà K mà Tòa án đang thụ lý giải quyết, tuy nhiên, bà L xác định không khởi kiện bổ sung mà muốn khởi kiện bằng một vụ án khác.
Đồng thời, theo quy định tại mục 7, Phần IV Công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ của Tòa án có giải đáp như sau: “Tòa án chấp nhận việc nguyên đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện nếu việc thay đổi, bổ sung được thực hiện trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tại phiên họp và sau phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thì Tòa án chỉ chấp nhận việc đương sự thay đổi yêu cầu khởi kiện nếu việc thay đổi yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu”.
Tại khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng có quy định như sau: “Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu”.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Hà Trương Như L mới có lời trình bày yêu cầu bổ sung liên quan đến yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu đối với các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà bà H đã sử dụng giấy ủy quyền của bà để ký chuyển nhượng. Căn cứ theo các quy định vừa nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận việc khởi kiện bổ sung của bà L là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Trong suốt quá trình giải quyết ở cấp sơ thẩm, bà L cũng không có yêu cầu gì về bồi thường thiệt hại, chưa có đơn yêu cầu và chưa được thụ lý giải quyết ở
cấp sơ thẩm nên Tòa án cấp phúc thẩm cũng không có căn cứ xem xét kiến nghị của bà L.
Trường hợp bà L và các đương sự có tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại, tranh chấp liên quan đến số tiền 10.000.000.000 (mười tỉ) đồng hoặc tranh chấp khác thì có quyền khởi kiện vụ kiện khác.
[2.2] Xét kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Phương H nội dung yêu cầu hủy bản án sơ thẩm do không xem xét quyền lợi cho bà, Hội đồng xét xử xét thấy:
Như đã nêu tại đoạn được đánh số thứ tự [2.1.1], tại Biên bản hòa giải ngày 07/3/2025 (BL 361), người đại diện theo ủy quyền của bà H trình bày bà H không có liên quan gì trong vụ án này và cũng không có yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì liên quan đến bà H trong vụ án này, đồng thời có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt (BL 424).
Như đã phân tích tại đoạn được đánh số thứ tự [2.1.2], đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện và Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó. Bà H không có yêu cầu gì, do đó, bà H không có yêu cầu nào được giải quyết trong bản án sơ thẩm. Bản án sơ thẩm không quyết định vấn đề nào liên quan đến bà H là cũng là phù hợp với ý chí của bà H.
Vì vậy, việc bà H yêu cầu hủy bản án sơ thẩm do không xem xét quyền lợi cho bà là không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà H.
Trường hợp bà H và các đương sự có tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại, tranh chấp liên quan đến số tiền 10.000.000.000 (mười tỉ) đồng hoặc tranh chấp khác thì có quyền khởi kiện vụ kiện khác.
[3] Bà L, bà H kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho kháng cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà L và bà H, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 60/2025/DS-ST ngày 12 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5 - Vĩnh Long).
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm:
Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà L và bà H phải chịu án phí dân
sự phúc thẩm. Tuy nhiên, bà H là người cao tuổi, được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí dân sự phúc thẩm.
Bà L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0011576 ngày 13/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Vĩnh Long).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của bà Hà Trương Như L và bà Nguyễn Thị Phương H;
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 60/2025/DS-ST ngày 12 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5 - Vĩnh Long).
Căn cứ vào các điều 147, 148 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, các điều 26, 27, 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà H Trương Như L về việc buộc bị đơn bà Trần Yến K trả lại các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau:
- - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY397918, thửa đất số 124, tờ bản đồ số 39, địa chỉ tại phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 25 tháng 02 năm 2021, đứng tên bà Hà Trương Như L;
- - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY397763, thửa đất số 126, tờ bản đồ số 39, địa chỉ tại phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 05 tháng 02 năm 2021, đứng tên bà Hà Trương Như L.
2. Về chi phí tố tụng khác: Bà Hà Trương Như L phải chịu 1.952.000 (một triệu chín trăm năm mươi hai nghìn) đồng và đã nộp xong.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Hà Trương Như L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005158 ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre.
4. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Hà Trương Như L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0011576 ngày 13 tháng 6 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Vĩnh Long).
Bà Nguyễn Thị Phương H được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thu Trang |
Bản án số 600/2025/DS-PT ngày 09/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp về đòi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 600/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về đòi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đòi giấy chứng nhận QSDĐ
