Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 600/2024/DS-PT

Ngày 29/11/2024

V/v Tranh chấp

Hợp đồng đổi đất nông nghiệp.

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Quỳnh;
Các Thẩm phán: Ông Vũ Minh Tuấn;
Bà Nguyễn Phương Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vy Minh Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Phan Diệu Nhân- Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 252/2024/TLPT-DS ngày 14 tháng 05 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng đổi đất nông nghiệp”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 05 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12548/2024/QĐ-PT ngày 07 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Ông Tống Quang S, sinh năm 1953; Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội, có mặt.
  • Người đại diện theo ủy quyền: ông Tống Quang T, sinh năm 1985, CCCD số [...] do Cục CSQLHC về TTXH cấp ngày 09/9/2022; Hộ khẩu thường trú tại Đ, thôn T, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội (Giấy ủy quyền ngày 24/6/2024), có mặt.
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Tống Quang S: bà Hoàng Thị N và ông Nguyễn Văn H- Luật sư thuộc Văn phòng L3- Đoàn Luật sư thành phố H; Địa chỉ: P.1108 Tòa nhà N T, quận H, Thành phố Hà Nội. Bà N có mặt, vắng mặt ông H.
  • * Bị đơn: Ông Hà Đắc N1, sinh năm 1958; Địa chỉ: thôn Q, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội, có mặt.
  • Người đại diện theo ủy quyền: Bà Khổng Thị Thu A, sinh năm 1972, CCCD số [...] do Cục C về TTXH cấp ngày 11/6/2023; Địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà V, A T, Hà Nội, SĐT: 0908.289.xxx, có mặt
  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: Ngân hàng TMCP Á (A1), trụ sở chính: D N, phường E, quận C, thành phố Hồ Chí Minh, có bà Lê Thị T1- chuyên viên Ngân hàng, có mặt.
  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1960 và ông Tống Quang T, sinh năm 1985; cùng địa chỉ: thôn T, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội, có mặt.
    • - Bà Nguyễn Thị H1 (vợ ông N1), sinh năm 1962, địa chỉ: thôn Q, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội, vắng mặt.
    • - Ông Nguyễn Đức H2, sinh năm 1975 và bà Ngô Thị Mai L, sinh năm 1978, HKTT: số C, đường T, phường K, quận T, thành phố Hà Nội. Nơi cứ trú: C10-12 tòa Golden West, số B L, quận T, thành phố Hà Nội, có mặt ông H2, vắng mặt bà L.
    • - Ủy ban nhân dân huyện C, thành phố Hà Nội, vắng mặt và có đơn xin đề nghị xét xử vắng mặt;
    • - Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, thành phố Hà Nội, vắng mặt.
    • - Ông Nguyễn Đình N2, sinh năm 1951. Địa chỉ: Đ, thôn T, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội (Toà không triệu tập vì đã có lời khai tại hồ sơ và có mặt tại phiên toà phúc thẩm mở ngày 15/8/2024).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Các bên đương sự đều thừa nhận ngày 04/01/2003, ông Tống Quang S, và ông Hà Đắc N1 đã lập và ký giấy giao kèo đổi đất với nội dung: “Sau khi đã bàn bạc, chúng tôi nhất trí đổi ruộng cho nhau. Tôi Hà Đắc N1 lấy mảnh ruộng 360m² của anh S. Mảnh ruộng này có phía Tây giáp đất 10% của anh H2 thuộc xứ đồng Chằm, còn ông S lấy ruộng của ông N1 đủ 360m² (sẽ chỉ sau) và chuyển trong bìa đỏ. Như vậy kể từ hôm nay 04/01/2003, hai bên không được tự ý thay đổi ý kiến” (BL 09). Các bên đương sự xác nhận diện tích đất ông S đổi cho ông N1 tại giấy giao kèo ngày 04/01/2003 là Thửa đất số 480 Tờ bản đồ số 5 tại đồng C, thôn T, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội (viết tắt là Thửa đất số 480).

Sau khi ký giao kèo đổi ruộng, hộ ông N1 đã canh tác, sử dụng đất ruộng tại Thửa đất số 480 của ông S tại xứ đồng Chằm cho đến khi xảy ra tranh chấp năm 2021 (18 năm). Năm 2005 ông N1 đã đổ đất, tôn nền đối với diện tích đất ruộng. Năm 2006, ông N1 dựng nhà xưởng để kinh doanh và năm 2008 hộ gia đình ông N1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng là đất ở và đất trồng cây lâu năm.

Tuy nhiên, ngày 20/01/2014, Tiểu ban dồn điền đổi thửa thôn T, UBND xã T lại lập Biên bản giao nhận ruộng theo Phương án dồn điền đổi thửa cho hộ ông Tống Quang S ngoài thực địa, gồm cả diện tích 382m² Thửa đất số 480 tại đồng Chằm mà năm 2003 hộ ông S đã đổi cho hộ ông Hà Đắc N1. Ngày 31/12/2016, UBND huyện C cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp số CH 748571 sau dồn điền đổi thửa cho hộ ông Tống Quang S đối với Thửa đất số 480 diện tích 382m² đất tại đồng C mà ông S đã đổi cho ông N1.

Ngày 24/3/2021, ông Hà Đắc N1 đã chuyển nhượng 233,2m² Thửa đất số 480 cho anh Nguyễn Đức H2 - chị Ngô Thị Mai L (theo GCNQSDĐ số DB 552164, số vào sổ cấp GCN:CS-CM 12241 do Sở Tài nguyên môi trường Thành phố H cấp ngày 15/4/2021 với số thửa là 572, tờ bản đồ số 19, diện tích 233,2m² trong đó 117,3m² đất ở, 115,9m² đất vườn, đứng tên ông Nguyễn Đức H2, bà Ngô Thị Mai L);

Phần diện tích đất còn lại 112,3m² của Thửa số 480 ông Hà Đắc N1 được cấp GCNQSDĐ vào ngày 15/4/2021 (theo GCNQSDĐ số DB 552154, số vào sổ cấp GCN:CS-CM 12240 do Sở Tài nguyên môi trường Thành phố H cấp ngày 15/4/2021, với số thửa là 571, tờ bản đồ số 19, diện tích 112,3m² trong đó 60,6m² đất ở, 51,7m² đất vườn, đứng tên ông Hà Đắc N1). Ngày 26/10/2021, ông đã thế chấp quyền sử dụng đất 112,3m² cho Ngân hàng TMCP Á.

Ngày 15/12/2021, ông Tống Quang S khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết:

  1. Buộc ông Hà Đắc N1 trả lại cho gia đình ông T2 đất số 480, tờ bản đồ số 05, diện tích 382m² tại xứ đồng Chằm, thôn T, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội mà gia đình ông Tống Quang S đã được cấp GCNQSDĐ số 0 575313 ngày 30/9/1999, sau dồn điền đổi thửa được cấp lại Giấy là GCNQSDĐ số CH 748571 ngày 31/12/2016.
  2. Huỷ GCNQSD đất ở số seri BD 765224 số vào sổ cấp GCN 00192 cấp ngày 27/12/2010 do UBND huyện C cấp cho hộ ông Hà Đắc N1 và bà Nguyễn Thị H1. Diện tích trên GCNQSD đất là 379m² trong đó 200m² đất ở, đất trồng cây lâu năm khác là 179m².

Quá trình giải quyết vụ án, ông được biết ông N1 đã chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất cho vợ chồng anh Nguyễn Đức H2 – chị Ngô Thị Mai L, phần còn lại ông N1 đã thế chấp cho Ngân hàng TMCP A1. Do vậy ông đề nghị:

  1. Hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông N1 với anh H2, chị L và Hủy GCNQSDĐ đã cấp cho vợ chồng anh H2, chị L.
  2. Hủy GCNDQSD đất cấp cho ông Hà Đắc N1 ngày 15/4/2021 và Hủy Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa ông N1 với Ngân hàng TMCP Á.

Ngày 16/11/2023, ông có văn bản gửi Tòa án, đề nghị:

  • Rút yêu cầu khởi kiện đề nghị hủy GCNQSDĐ đối với Thửa đất số 480, tờ bản đồ số 10 và các GCNQSDĐ khác đối với diện tích được tách từ Thửa đất số 480, tờ bản đồ số 10 lập năm 1999 của gia đình ông N1, bà H1 với lý do: Diện tích đất ông N1 được UBND huyện C cấp giấy chứng nhận (Thửa đất số 480, tờ bản đồ số 10 lập năm 1999) không liên quan đến diện tích đất của gia đình ông S khởi kiện đòi lại là T2 số 480, của tờ bản đồ số 05.
  • Yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu “Giấy giao kèo” ngày 04/01/2003 và Hợp đồng chuyển đổi đất ngày 01/01/2003.
  • Buộc ông N1 phải trả số tiền 18.569.000 đồng là giá trị sản thầu diện tích 382m² (BL 234, 346)
  • Yêu cầu ông N1 phải hoàn trả các chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.

Bị đơn là ông Hà Đắc N1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn ông Tống Quang S vì cho rằng: Việc đổi đất giữa ông với vợ chồng ông S trên cơ sở tự nguyện xuất phát từ nhu cầu sử dụng canh tác. Năm 2003 gia đình ông S đã nhận tiền của ông hai lần là 5.000.000 đồng và đã được ông S thừa nhận tại buổi hòa giải của thôn và xã. Năm 2013 trước khi dồn điền đổi thửa, ông đã trao đổi với ông S về việc trả ruộng nhưng ông S không nhận nên ông đã phải gửi phần đất ruộng đó vào sổ đỏ của gia đình ông N2 do bà H3 làm chủ hộ chứ không phải không có ruộng để trả. Đến nay thời hiệu khởi kiện về tranh chấp hợp đồng đã hết, đề nghị Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện.

Bà Nguyễn Thị Đ (vợ ông Tổng Quang S): nhất trí ý kiến trình bày và yêu cầu khởi kiện của ông S.

Anh Tổng Quang T (con trai ông Tổng Quang S): nhất trí với ý kiến trình bày và yêu cầu khởi kiện của ông S.

- Đại diện Ngân hàng TMCP Á (A1) trình bày: không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Tống Quang S. Ngân hàng A1 có yêu cầu độc lập, đề nghị Tòa án công nhận hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho Ngân hàng A1.

- Anh Nguyễn Đức H2 trình bày: Năm 2021, anh đã mua 233,2m² đất tại thôn T, xã T, huyện C của ông Hà Đắc N1. Vợ chồng anh đã được Sở TNMT cấp GCNQSDĐ đất đối với diện tích đất nói trên theo GCNQSDĐ số DB 552164, số vào sổ cấp GCN:CS-CM 12241 do Sở Tài nguyên môi trường Thành phố H cấp ngày 15/4/2021 đứng tên ông Nguyễn Đức H2, bà Ngô Thị Mai L, tài sản này hiện thuộc quyền sử dụng hợp pháp của vợ chồng anh. Anh không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông S, đề nghị Tòa án xem xét đảm bảo quyền lợi của vợ chồng anh.

- Ý kiến của Ủy ban nhân dân xã T: Tại Công văn số 125/UBND-BC ngày 07/6/2021, gửi các cơ quan: Sở Tư pháp Thành phố Hà Nội, UBND huyện C, Phòng Tài nguyên - Môi trường huyện C, Văn phòng Đ1 chi nhánh huyện C (BL 06) thể hiện: Thửa đất đang tranh chấp đã được cấp 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 02 chủ hộ khác nhau, cụ thể là:

  • GCNQSDĐ số BD 765224 cấp ngày 27/12/2010 cho Hộ ông Hà Đắc N1 và bà Nguyễn Thị H1, là Thửa số 480, Tờ bản đồ số 10, diện tích 379m² trong đó đất ở là 200m², đất trồng cây lâu năm là 179m² mục đích sử dụng là đất ở và đất vườn.
  • GCNQSDĐ số CH 748571, ngày 31/12/2016 là Thửa đất số 480, không ghi số Tờ bản đồ, diện tích 382m² đứng tên hộ ông Tống Quang S, mục đích sử dụng là đất lúa.

UBND xã T đề nghị tạm dừng giao dịch đối với 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho Hộ ông Tống Quang S và Hộ ông Hà Đắc N1 nêu trên.

Sau khi ban hành Công văn số 125/UBND-BC ngày 07/6/2021, ngay trong ngày bộ phận văn phòng của UBND xã T đã gửi văn bản này vào địa chỉ mail cùng vụ việc của cơ quan: Sở Tư pháp Thành phố Hà Nội, UBND huyện C, Phòng Tài nguyên - Môi trường huyện C, Văn phòng Đ1 chi nhánh huyện C. Do là nơi theo dõi địa chỉ mail nên đã nắm được thông tin. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết việc gửi do dung lượng phần mềm đầy sẽ tự hủy, tự xóa. UBND xã T không gửi bản cứng văn bản trên theo đường bưu điện (Biên bản làm việc ngày 25/10/2023). UBND xã hay Hợp tác xã nông nghiệp xã T không nhận thế chấp hay tín chấp diện tích đất nông nghiệp 382m² ở đồng Chằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ ông Tống Quang S theo “Bản báo lãnh thể chấp hợp đồng kinh tế ngày 19/6/2014”. Do Gia đình ông S nhận thầu ruộng của các hộ dân ở xứ đồng Tran, nên Hợp tác xã nông nghiệp xã T ở giữa làm trọng tài để nhận sản của hộ Sinh nộp, rồi sau đó Hợp tác xã nông nghiệp xã T sẽ có trách nhiệm trả sản cho các hộ dân đã có ruộng cho hộ ông S nhận thầu.

- Ý kiến của Ủy ban nhân dân huyện C trình bày: Huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 887073 cho hộ ông Hà Đắc N1 là đảm bảo trình tự, thủ tục theo quy định.

- Năm 2016, UBND xã T đã lập hồ sơ đề nghị UBND huyện C cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp sau dồn điền đổi thửa cho hộ ông Tống Quang S, gồm cả diện tích 382m² đất ở xứ đồng Chằm, trong khi thửa đất này ông Hà Đắc N1 đang sử dụng, đã được xử lý cấp GCNQSDĐ ngày 31/12/2008 thuộc Thửa số 480, tờ bản đồ số 10, diện tích 379m² là chưa đảm bảo quy định.

Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản đối với tranh chấp tại thôn T, xã T, huyện C: Theo GCNQSDĐ số CH 748571, ngày 31/12/2016 là Thửa đất số 480 mục đích sử dụng là đất lúa đứng tên hộ ông Tống Quang S. Còn theo GCNQSDĐ số BD 765224, cấp ngày 27/12/2010 cho Hộ ông Hà Đắc N1 và bà Nguyễn Thị H1 thì mục đích sử dụng là đất ở và đất vườn.

- Về đất: Đo hiện trạng là 386m² có vị trí tiếp giáp như sau: Bắc giáp phần đất ông Hà Đắc N1 (thửa 395) dài 25m. Nam giáp đất bà Tống Thúy H4 dài 21,31m. Đông giáp đất bà Nguyễn Thị M dài 10,1m; giáp đất ông Tống Văn T3 dài 5,11m; giáp đất ông Tống Văn T4 dài 2,21m. Tây giáp đất ông N1 (thửa 395) dài 16,66m. Trong tổng diện tích 386m² đất trên có 233,2m² đất ông N1, bà H1 đã chuyển nhượng cho anh Nguyễn Đức H2, chị Ngô Thị Mai L. Hội đồng định giá kết luận: Giá đất trồng cây hàng năm (trồng lúa) là 810.000 đồng/m². Giá đất ở là 12.154.000 đồng/m². Giá đất trồng cây lâu năm là 948.000 đồng/m²

- Về tài sản trên diện tích đất tranh chấp: Mái tôn gồm hệ thống khung thép đỡ làm năm 2017: Diện tích 46,6m² x 457.000 đồng/m² x 60% = 12.778.000 đồng; Sân lát gạch đỏ (50x50)cm làm năm 2017: Diện tích 98,3m² x 290.000 đồng/m² x 60% = 17.104.000 đồng; Tường bao xây gạch 110cm, bổ trụ làm năm 2004 (giáp đất bà M, ông T3, ông T4, bà H4): (Dài 29,42m x cao 2m) x 698.000 đồng/m² x 40% = 16.428.000 đồng; 01 cây Vú sữa đường kính >35cm: 957.6000 đồng; 01 cây Bưởi đường kính 10cm: 239.400 đồng; 02 cây Bưởi đường kính 07cm: 167.600 đồng/cây x 02 cây = 335.000 đồng; 01 cây L1 vừng đường kính 25cm: 378.000 đồng.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 05 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định:

Căn cứ Điều 26, Điều 34, Điều 37, Điều 147, Điều 157, Điều 165, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 32, 193 Luật tố tụng hành chính; Điểm a, b, d khoản 1 Điều 106; khoản 2 Điều 113 của Luật Đất đai năm 2003; Điều 413 Bộ luật dân sự năm 1995; Khoản 2, 3 Điều 133 Bộ luật dân sự năm 2015; Luật thi hành án dân sự; Nghị quyết 326/UBTVQH, Nghị quyết 04/2004/NQ-HĐTP Tòa án nhân dân tối cao ngày 10/8/2004; tuyên xử:

1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn – ông Tống Quang S về việc:

1.1. Hủy các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau:

  • - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở số seri BD 765224 số vào sổ cấp GCN 00192 cấp ngày 27/12/2010 do UBND huyện C cấp cho hộ ông Hà Đắc N1 và bà Nguyễn Thị H1.
  • - Giấy chứng nhận quyền sử dụng số DB 552154, số vào sổ cấp GCN:CS-CM 12240 do Sở Tài nguyên môi trường Thành phố H cấp ngày 15/4/2021 đứng tên ông Hà Đắc N1.

1.2. Hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Hà Đắc N1 với anh Nguyễn Đức H2, chị Ngô Thị Mai L số công chứng 1489 ngày 16/3/2021.

1.3. Hủy Hợp đồng thế chấp được công chứng số 002784, ngày 25/10/2021 tại Văn phòng C1 giữa: Bên thế chấp là ông Hà Đắc N1; Bên nhận thế chấp là Ngân hàng A1; Bên được cấp tín dụng là anh Hà Đắc L2.

2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Tống Quang S với ông Hà Đắc N1 về việc tranh chấp Hợp đồng đổi đất nông nghiệp.

2.1. Buộc ông Hà Đắc N1 phải thanh toán cho ông Tống Quang S, bà Nguyễn Thị Đ, anh Tống Quang T số tiền 309.420.000 đồng giá trị quyền sử dụng Thửa đất số 480, diện tích 382m², tờ bản đồ số 05, mục đích trồng lúa, địa chỉ thôn T, xã T, huyện C, theo GCNQSDĐ số CH 748571, số vào sổ cấp GCN:CH 01049 do UBND huyện C cấp ngày 31/12/2016 đứng tên hộ ông Tống Quang S.

Đối trừ với số tiền 5.000.000 đồng hộ ông Tống Quang S đã nhận của ông Hà Đắc N1 vào năm 2003, buộc ông N1 phải có trách nhiệm thanh toán cho ông S, bà Đ, anh T là 304.420.000 đồng.

2.2. Buộc ông Hà Đắc N1 phải hoàn trả lại cho ông Tống Quang S số tiền chi phí tố tụng là 16.500.000 đồng.

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, người có quyền yêu cầu thi hành án có Đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành án thì còn phải trả lãi đối với số tiền chưa thi hành theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

3. Không chấp nhận yêu cầu của ông Tống Quang S đối với ông Hà Đắc N1 phải trả số tiền 18.569.000 đồng tiền nộp sản lượng trong thời gian 10 năm ông N1 không có ruộng giao cho ông S để canh tác.

4. Chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng TMCP Á về việc yêu cầu công nhận Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất công chứng số 002784, ngày 25/10/2021 tại Văn phòng C1 giữa: Bên thế chấp là ông Hà Đắc N1; Bên nhận thế chấp là Ngân hàng A1; Bên vay vốn là anh Hà Đắc L2, có hiệu lực pháp luật.

5. Kiến nghị UBND huyện C thu hồi phần cấp quyền sử dụng đất đối với thửa đất tại xứ đồng Chằm, xã T, C, Thành phố Hà Nội, diện tích 382m², mục đích sử dụng trồng lúa, thời hạn sử dụng đến ngày 15/10/2063 trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng số CH 748571, số vào sổ cấp GCN:CH 01049 do UBND huyện C cấp ngày 31/12/2016 cho hộ ông Tống Quang S.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và tuyên quyền kháng cáo của đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 16/01/2024, Ngân hàng A1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm vì lý do quá 10 ngày chưa nhận được Bản án sơ thẩm, nếu nhận được Bản án mà nội dung bản án đã tuyên công nhận hiệu lực của Hợp đồng thế chấp số HAN.BĐCN.228.221021 giữa ông Tống Quang S và Ngân hàng A1 thì Ngân hàng A1 sẽ rút kháng cáo (BL 520). Sau đó, ngày 31/01/2024, Ngân hàng A1 có văn bản số 417 rút toàn bộ kháng cáo.

Ngày 18/01/2024, nguyên đơn ông Tống Quang S có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm (BL503), đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông S, tuyên Giấy giao kèo ngày 04/01/2003 là vô hiệu; hủy Hợp đồng chuyển đổi ngày 01/01/2003; buộc gia đình ông N1 trả lại thửa đất số 480 Tờ bản đồ số 5 và phải bồi thường cho gia đình ông S giá trị thuê ruộng 10 năm từ 2013 đến nay.

Tại phiên toà phúc thẩm, ngày 29/11/2024, Nguyên đơn ông Tống Quang S và Bị đơn ông Hà Đắc N1 đã hòa giải, thống nhất, thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án và lập "Biên bản thoả thuận” có đầy đủ chữ ký của Bên Nguyên đơn ông Hà Đắc N1, bà Khổng Thị Thu A (người đại diện theo uỷ quyền của ông N1), Bị đơn ông Tống Quang S, anh Tống Quang T(người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và cũng là người đại diện theo uỷ quyền của ông S), bà Nguyễn Thị Đ (vợ ông S và là người liên quan) với nội dung:

“Nguyên đơn ông Tổng Quang S, Bị đơn ông Hà Đắc N1 cùng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Đ, anh Tổng Quang T cùng thống nhất: phía Nguyên đơn ông Tống Quang S đồng ý để gia đình ông Hà Đắc N1 được tiếp tục sử dụng Thửa đất số 480 Tờ bản đồ số 5 tại Đ, thôn T, xã T. Gia đình ông S cam kết từ nay gia đình ông S không còn tranh chấp đối với T2 đất số 480 Tờ bản đồ số 5 đã đổi cho ông Hà Đắc N1 theo Hợp đồng đổi đất tại Giấy giao kèo ngày 04/01/2003 và Thửa đất trên thuộc quyền sử dụng của ông Hà Đắc N1.

Ông Hà Đắc N1 cam kết trả cho ông Tổng Quang S số tiền là 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng) và ông N1 sẽ trả số tiền 600.000.000 đồng theo lộ trình sau:

  • - Ông N1 trả cho ông S 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) trước Tết âm lịch (tức trước ngày 22/01/2025);
  • - Ông N1 trả tiếp lần 2 cho ông S 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) trước ngày 28/3/2025.

Nếu ông N1 vi phạm thời hạn trả nợ thì gia đình ông S có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự cưỡng chế thi hành án đối với ông N1 và ông N1 sẽ phải chịu lãi suất chậm trả theo quy định”.

Về án phí và chi phí tố tụng: các đương sự đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên toà phúc thẩm đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm, công nhận sự thoả thuận của các đương sự về việc giải quyết vụ án theo nội dung các đương sự đề nghị và đã hoà giải tại phiên toà phúc thẩm, thể hiện tại Biên bản thoả thuận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, lời trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Ngày 18/01/2024, nguyên đơn ông Tống Quang S kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 05/01/2024 là trong thời hạn luật định và có đơn xin miễn tiền tạm ứng án phí và án phí phúc thẩm, nên đủ điều kiện xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung: Tại phiên toà phúc thẩm, các đương sự đã thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy sự thoả thuận của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, nên sửa bản án dân sự sơ thẩm, công nhận sự thoả thuận của các đương sự, cụ thể:

[2.1] Nguyên đơn ông Tống Quang S và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Tống Quang T, bà Nguyễn Thị Đ đồng ý để gia đình ông Hà Đắc N1 được tiếp tục sử dụng Thửa đất số 480 Tờ bản đồ số 5 tại Đ, thôn T, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội. Gia đình ông S cam kết không còn tranh chấp đối với Thửa đất số 480 Tờ bản đồ số 5 đã đổi cho ông Hà Đắc N1 theo Giấy giao kèo ngày 04/01/2003 và Thửa đất trên thuộc quyền sử dụng của ông Hà Đắc N1.

[2.2] Ông Hà Đắc N1 cam kết trả cho ông Tống Quang S số tiền là 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng) và ông N1 sẽ trả số tiền 600.000.000 đồng theo lộ trình sau: Ông N1 trả cho ông S 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) trước Tết âm lịch 2025 (tức trước ngày 22/01/2025); Ông N1 trả tiếp lần hai cho ông S 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) trước ngày 28/3/2025.

[3] Hội đồng xét xử thấy rằng Thửa đất số 480 Tờ bản đồ số 5 tại Đ, thôn T, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội đã được ông Tống Quang S đổi cho ông Hà Đắc N1 theo Giấy giao kèo ngày 04/01/2003 và tại phiên toà phúc thẩm các đương sự đã thoả thuận công nhận Thửa đất số 480 trên thuộc quyền sử dụng của ông Hà Đắc N1, nên cần huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng số CH 748571, số vào sổ cấp GCN:CH 01049 do UBND huyện C cấp ngày 31/12/2016 cho hộ ông Tống Quang S.

[4] Về án phí: ông Tống Quang S và ông Hà Đắc N1 đều là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí. Do đó, ông Tống Quang S được miễn án phí dân sự phúc thẩm, không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; ông Hà Đắc N1 được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

[5] Về chi phí tố tụng: Trong vụ án này, Toà án cấp sơ thẩm đã chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn ông Tống Quang S đối với tranh chấp Hợp đồng đổi đất nông nghiệp ngày 04/01/2003, buộc ông Hà Đắc N1 phải trả cho ông Tống Quang S số tiền 309.420.000 đồng (ba trăm lẻ chín triệu bốn trăm hai mươi triệu đồng) giá trị quyền sử dụng Thửa đất số 480, diện tích 382m² tờ bản đồ số 05, mục đích trồng lúa, địa chỉ thôn T, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội. Tại phiên toà phúc thẩm, các đương sự hoà giải, thoả thuận với nhau về số tiền buộc ông N1 phải trả cho ông S là 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng). Do đó, ông N1 vẫn phải chịu chi phí tố tụng theo quy định pháp luật là 16.500.000 đồng. Ông S đã nộp số tiền này nên buộc ông N1 phải hoàn trả lại cho ông S số tiền 16.500.000 đồng chi phí tố tụng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308, Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm 02/2024/DS-ST ngày 05/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
  2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự tại phiên toà phúc thẩm về việc giải quyết vụ án. Cụ thể:
    • Công nhận Thửa đất số 480 Tờ bản đồ số 5 tại Đ, thôn T, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội mà ông Tống Quang S đã đổi cho ông Hà Đắc N1 tại Giấy giao kèo ngày 04/01/2003, thuộc quyền sử dụng của ông Hà Đắc N1.
    • Ông Hà Đắc N1 có trách nhiệm trả cho ông Tống Quang S số tiền 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng) theo lộ trình: Ông N1 trả cho ông S 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) trước Tết âm lịch năm 2025 (tức trước ngày 22/01/2025); Ông N1 trả tiếp lần 2 cho ông S 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) trước ngày 28/3/2025.
  3. Huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng số CH 748571, số vào sổ cấp GCN: CH 01049 do UBND huyện C cấp ngày 31/12/2016 cho hộ ông Tống Quang S đối với Thửa đất số 480 tại Đ, thôn T, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội.
  4. Về án phí: ông Tống Quang S được miễn án phí dân sự phúc thẩm, không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ông Hà Đắc N1 được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về chi phí tố tụng: Bị đơn ông Hà Đắc N1 phải chịu chi phí tố tụng theo quy định là 16.500.000 đồng (mười sáu triệu năm trăm nghìn đồng). Ông Tống Quang S đã nộp 16.500.000 đồng tiền chi phí tố tụng, nên ông Hà Đắc N1 phải hoàn trả cho ông S số tiền 16.500.000 đồng.
  6. Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, 468 Bộ luật dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
  7. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  8. Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
CÁC THẨM PHÁN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Phương Hạnh Vũ Minh Tuấn Trần Thị Quỳnh

Nơi nhận:

  • - VKSNDCC tại Hà Nội;
  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - Cục THA TP Hà Nội;
  • - Các đương sự (theo địa chỉ).
  • - Lưu HS, HСТР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Quỳnh

- GCNQSDĐ số CH 748571, ngày 31/12/2016 là Thửa đất số 480, không ghi số Tờ bản đồ, diện tích 382m² đứng tên hộ ông Tống Quang S, mục đích sử dụng là đất lúa.

Điều 300. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm

1. Tại phiên tòa phúc thẩm, nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và thỏa thuận của họ là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội thì Hội đồng xét xử phúc thẩm ra bản án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

2. Các đương sự tự thỏa thuận với nhau về việc chịu án phí sơ thẩm, nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định theo quy định của pháp luật.

Điều 308. Thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm

Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền sau đây:

  1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm;
  2. Sửa bản án sơ thẩm;
  3. Hủy bản án sơ thẩm, hủy một phần bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm;
  4. Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án;
  5. Đình chỉ xét xử phúc thẩm;
  6. Tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án khi có văn bản của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên cho đến khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền có văn bản trả lời Tòa án kết quả xử lý.

Điều 309. Sửa bản án sơ thẩm

Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa một phần hoặc toàn bộ bản án sơ thẩm nếu Tòa án cấp sơ thẩm quyết định không đúng pháp luật trong các trường hợp sau đây:

  1. Việc thu thập chứng cứ và chứng minh đã được thực hiện đầy đủ và theo đúng quy định tại Chương VII của Bộ luật này.
  2. Việc thu thập chứng cứ và chứng minh chưa được thực hiện đầy đủ ở cấp sơ thẩm nhưng tại phiên tòa phúc thẩm đã được bổ sung đầy đủ.

Điều 165. Nghĩa vụ chịu chi phí định giá tài sản, thẩm định giá

Trường hợp các bên đương sự không có thỏa thuận khác hoặc pháp luật không có quy định khác thì nghĩa vụ chịu chi phí định giá tài sản, thẩm định giá được xác định như sau:

  1. Đương sự phải chịu chi phí định giá tài sản nếu yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận.
  2. Trường hợp yêu cầu Tòa án chia tài sản chung thì mỗi người được chia tài sản phải chịu phần chi phí định giá tài sản tương ứng với tỷ lệ giá trị phần tài sản mà họ được chia.
  3. Trường hợp Tòa án ra quyết định định giá tài sản quy định tại điểm c khoản 3 Điều 104 của Bộ luật này thì nghĩa vụ chịu chi phí định giá tài sản được xác định như sau:
    • Đương sự phải chịu chi phí định giá tài sản quy định tại khoản 1 Điều này nếu kết quả định giá chứng minh quyết định định giá tài sản của Tòa án là có căn cứ;
    • Tòa án trả chi phí định giá tài sản nếu kết quả định giá tài sản chứng minh quyết định định giá tài sản của Tòa án là không có căn cứ.
  4. Trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217, điểm b khoản 1 Điều 299 của Bộ luật này và Hội đồng định giá đã tiến hành định giá thì nguyên đơn phải chịu chi phí định giá tài sản.
  5. Trường hợp đình chỉ giải quyết việc xét xử phúc thẩm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 289, khoản 3 Điều 296 của Bộ luật này và Hội đồng định giá đã tiến hành định giá thì người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải chịu chi phí định giá tài sản.
  6. Các trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án khác theo quy định của Bộ luật này và Hội đồng định giá đã tiến hành định giá thì người yêu cầu định giá tài sản phải chịu chi phí định giá tài sản.
  7. Nghĩa vụ chịu chi phí thẩm định giá tài sản của đương sự được thực hiện như nghĩa vụ chịu chi phí định giá tài sản quy định tại các khoản 1, 2, 4 và 5 Điều này

Điều 158. Xử lý tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ

  1. Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ không phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ thì người phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo quyết định của Tòa án phải hoàn trả cho người đã nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
  2. Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, nếu số tiền tạm ứng đã nộp chưa đủ cho chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ thực tế thì họ phải nộp thêm phần tiền còn thiếu; nếu số tiền tạm ứng đã nộp nhiều hơn chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ thực tế thì họ được trả lại phần tiền còn thừa theo quyết định của Tòa án.

Điều 169. Quy định cụ thể về các chi phí tố tụng

Căn cứ vào quy định của Bộ luật này, Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định cụ thể về chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài, chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, chi phí giám định, định giá tài sản; chi phí cho người làm chứng, người phiên dịch; chi phí tố tụng khác do luật khác quy định và việc miễn, giảm chi phí tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 600/2024/DS-PT ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng đổi đất nông nghiệp.

  • Số bản án: 600/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng đổi đất nông nghiệp.
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tống Quang S và Hà Đắc N Tranh chấp hợp đồng đổi đất nông nghiệp
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger