TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 60/2024/HS-ST
Ngày: 31 - 7 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN - TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Hạnh; Ông Phạm Minh Đức.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 31/7/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 47/2024/TLST-HS ngày 24/6/2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2024/QĐXXST-HS ngày 17/7/2024, đối với các bị cáo:
1/ Họ và tên: Nguyễn Đức T, sinh năm 1984.Hộ khẩu thường trú:Thôn N, xã A, huyện H, thành phố Hà Nội. Nơi ở: Số nhà B, ngõ B đường L, xã L, huyện H, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: Lớp 8/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Đức G và bà Nguyễn Thị Hồng C. Gia đình bị cáo có 04 chị em, bị cáo là con thứ ba. Vợ là Bùi Thị N. Bị cáo có 02 con. Con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2012.
Tiền án, tiền sự: Chưa.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05/02/2024 tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
2/ Họ và tên: Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1994. Nơi cư trú: Phòng 2402, S Vinhomes SmartCity, phường T, quận N, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: Lớp 12/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nữ. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Trung P và bà Quách Thị Thu H. Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ nhất. Chồng là Vũ Ngọc L1. Bị cáo có 01 con sinh năm 2019.
Tiền án: Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 01 tháng 7 năm 2010 bị Công an thành phố H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05/02/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa
Người làm chứng:
- - Anh Vũ Ngọc L1, sinh năm 1989. Địa chỉ: P 2402, S, phường T, quận N, thành phố Hà Nội.
- - Anh Vũ Ngọc T1, sinh năm 1985. Địa chỉ: Số C đường N, phường A, thành phố H, tỉnh Hưng Yên.
- - Chị Phạm Thị T2, sinh năm 1977. Địa chỉ: Số A T, phường A, thành phố H, tỉnh Hưng Yên.
- - Ông Lưu Văn K, sinh năm 1961. Địa chỉ: Khu phố mới, phường H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên.
Tất cả người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 03/02/2024, Nguyễn Thị Thùy L rủ Nguyễn Đức T về thành phố H chơi, T đồng ý và có mang theo 01 túi màu đen mặt túi có dòng chữ AIR DIOR bên trong có chứa 04 túi nilon màu đỏ có chữ F và hình con ngựa còn nguyên vẹn (nước vui); 01 túi nilon màu trắng, miệng túi màu đỏ, bên trong túi có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng là ma túy "Ketamine"; 05 viên nén màu xám hình trái tim được đựng trong một vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng (là ma túy "tổng hợp"). Nguồn gốc số ma túy trên là trước đó T mua của một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ để sử dụng. Đến khoảng gần 24 giờ cùng ngày, T đi taxi về đến thành phố H, T đến quán chân gà nướng tại đường T, phường Q, thành phố H gặp L đang ăn uống cùng với các bạn. Khi T xuống xe taxi, L thấy T có mang theo 01 túi màu đen có chữ AIR DIOR. Tất cả ngồi ăn, uống tại đây đến khoảng gần 01 giờ sáng ngày 04/02/2024 thì đến quán K2 ở đường P, phường H, thành phố H hát và uống bia, sau đó mọi người đi về, lúc này T điều khiển xe ô tô mang biển kiểm soát 30H - 965.40 của L chở L đến phòng 302 nhà nghỉ T5. Khi lên phòng, T bỏ túi màu đen có dòng chữ AIR DIOR mà T mang theo xuống giường rồi nằm ngủ. L mở túi màu đen của T để lấy điện thoại thì thấy 04 túi nilon màu đỏ có chữ F và hình con ngựa còn nguyên vẹn. 01 túi nilon màu trắng, miệng túi màu đỏ bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng. Do đã từng sử dụng ma túy tổng hợp nên L biết mấy túi này là ma túy tổng hợp loại “nước vui” và “ke”. Khoảng 08 giờ ngày 04/02/2024, L gọi T dậy và bảo T sử dụng ma túy cùng L thì T đồng ý. T lấy 04 túi nilon màu đỏ có chữ F và hình con ngựa (nước vui) ra để lên bàn để sử dụng. T cắt 01 túi và đổ vào chai nước Lavie loại 350ml (chai nước này T và L gọi từ trước của nhà nghỉ), sau khi pha xong T uống trước rồi đưa chai nước
vui cho L uống. T và L đưa chai “nước vui” cho nhau uống 2 đến 3 lần thì hết. Sau khi sử dụng “nước vui” xong, T lấy túi ma túy “ke” từ trong túi đen của T ra đổ vào trong gạt tàn thuốc lá màu trắng bằng sứ có sẵn trong phòng và lấy tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng (mười nghìn đồng) của L đưa cho để cuộn thành hình ống hút vun ma túy “ke” thành các đống nhỏ để thuận tiện sử dụng. T đưa cho L ống hút và bê gạt tàn chứa ma túy để L sử dụng bằng hình thức dùng ống hút hít ma túy trong gạt tàn vào mũi. Sau khi hít xong ma túy “ke” L đưa lại ống hút cho T và bê gạt tàn chứa ma túy “ke” cho T sử dụng. L sử dụng ma túy “ke” khoảng hai lần mỗi lần sử dụng hai “đường ke”, L bê gạt tàn chứa ma túy “ke” cho T sử dụng khoảng 02 lần, ngoài ra T còn tự mình sử dụng ma túy “ke”, sau đó L và T nằm trên giường, T ngủ còn L sử dụng điện thoại. Một lúc sau L gọi T dậy định đi về nhưng thấy thời gian còn nhiều nên L bảo T để L mượn loa, đèn nháy về tiếp tục sử dụng ma túy, thì T đồng ý. L bảo T mua thêm bình khí cười, T đồng ý. L nhắn tin và gọi qua M từ điện thoại của L (tài khoản Face book của L là “Linh Tâyy”) cho một tài khoản Face book tên là “Tuyen Vu” của Vũ Ngọc T1, sinh năm 1985, T3 tại: Số C N, phường A, thành phố H, tỉnh Hưng Yên để mua bình khí cười với giá 900.000 đồng và mượn loa, đèn nháy của anh T1. Một lúc sau, T1 mang đến phòng nghỉ 302, T là người ra mở cửa để T1 mang 01 bình khí cười kim loại màu xanh, 03 vỏ bóng bay, 01 loa và 01 đèn nhấp nháy để vào trong phòng và đi về. Sau đó L tự cho khí từ bình vào trong 03 vỏ bóng bay và sử dụng hết, T và L bật đèn nhấp nháy, bật loa kết nối với điện thoại của L để nghe nhạc. T cắt thêm 01 túi ma túy “nước vui” đổ một nửa gói vào trong chai nước lọc lavie hòa tan. T và L tiếp tục sử dụng ma túy “ke” trong gạt tàn thuốc lá, còn chai ma túy “nước vui” T pha thêm vẫn để trên giường chưa kịp sử dụng thì lực lượng Công an tới kiểm tra. Khi bị kiểm tra T đã cất 02 gói ngựa còn nguyên chưa cắt và 01 gói đã cắt, 01 vỏ gói đã sử dụng hết trên bàn vào trong túi Dior màu đen của T nhằm cất giấu tránh bị lực lượng kiểm tra phát hiện. Sau khi lực lượng công an kiểm tra đã phát hiện, thu giữ toàn bộ ma túy T cất giấu trong túi DIOR màu đen và các loại ma túy khác, dụng cụ sử dụng ma túy trong phòng 302.
Vật chứng thu giữ:
1. Tại phòng 302 có:
- - 01 túi nilon màu trắng, miệng túi màu đỏ bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng, kích thước (5x7,8) cm túi nilon này được niêm phong trong 01 phong bì thư, dán kín. Ký hiệu M1.
- - 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng bên trong có: 05 viên nén màu xám hình trái tim, 05 viên này được niêm phong trong 01 phong bì thư, dán kín. Ký hiệu M2.
- - 01 túi màu đen có chữ AIR DIOR bên trong có: 04 túi nilon màu đỏ có chữ F và có hình con ngựa màu đen, trong đó có 02 túi còn nguyên vẹn kích thước (9x5,9) cm và 02 túi đã bị cắt ngang miệng túi bên trong có chứa chất bột màu cam trong 01 phong bì thư, dán kín. Ký hiệu M3.
- - 01 gạt tàn thuốc lá màu trắng bằng sứ có chứa chất rắn dạng tinh thể được niêm phong trong 01 hộp cattông có chữ khẩu trang 5D Thịnh Phát, dán kín. Ký hiệu M4.
- - 01 chai nước nhãn hiệu Lavie loại 350ml, bên trong có chứa nước màu cam được niêm phong trong 01 hộp cattông dán kín. Ký hiệu M5.
- - 01 bình kim loại hình trụ tròn màu xanh, đã dán kín niêm phong tại van đầu bình. Ký hiệu M6; 01 loa có chữ harman/kardon, 01 đèn nhấp nháy màu đen; 03 vỏ bóng bay màu vàng.
2. Thu giữ tại túi quần phía sau, bên phải Nguyễn Đức T đang mặc trên người có:
- - 01 ống hút được cuộn bằng tờ tiền Polyme mệnh giá 10.000 đồng, bên trong có bám dính chất bột màu trắng dạng tinh thể trong 01 phong bì thư, dán kín. Ký hiệu M1.
- - Thu của Nguyễn Đức T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu trắng, đã qua sử dụng. Hiện tại do T đã quên mật khẩu vì vậy không tiến hành kiểm tra được nội dung bên trong và số Imei của điện thoại. 01 giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Đức T.
3. 01 USB màu trắng nhãn hiệu Kingston có chứa dữ liệu là video ghi lại nội dung lực lượng công an kiểm tra phòng 302 nhà nghỉ T5 ngày 04/02/2024.
4. Thu của Nguyễn Thị Thùy L:
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 màu tím, số IMEI: 35626672670591, sim thuê bao 0944061994 đã qua sử dụng, mặt trước và mặt sau của điện thoại có nhiều vết xước và vết nứt.
- + 01 xe mô tô nhãn hiệu Mazda màu trắng, BKS 30H-965.40, số máy PE20887379, số khung RN2G247A6HC063265, xe đã qua sử dụng; 01 Giấy phô tô giấy biên nhận thế chấp xe ô tô BKS 30H-965.40 giữa Nguyễn Thị Thùy L và S; 01 Giấy phô tô bản sao đăng ký xe ô tô số 288129, BKS 30H-965.40 mang tên Nguyễn Thị Thùy L. Quá trình kiểm tra xe trong xe không phát hiện và thu giữ đồ vật nào khác.
Ngày 04/02/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở đối với Nguyễn Thị Thùy L và Nguyễn Đức T. Quá trình khám xét không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài sản gì.
Ngày 05/02/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H đã kiểm tra chất ma túy trong nước tiểu của Nguyễn Đức T và Nguyễn Thị Thùy L. Kết quả xét nghiệm: Nguyễn Thị Thùy Linh dương tính với: MDMA, nhóm A, M1, Ketamine. Nguyễn Đức T dương tính với: MDMA, nhóm A, M1.
Kết luận giám định: Số 230/KL-KTHS(MT) ngày 08/02/2024 của Phòng kĩ thuật hình sự - Công an tỉnh H kết luận:
- - Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng bám dính trong 01 ống hút được cuộn bằng
tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng trong niêm phong ghi ký hiệu M1, không xác định được khối lượng, là ma túy, loại: Ketamine.
- - Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong ghi ký hiệu M1, có khối lượng là: 1,123g là ma túy, loại: Ketamine.
- - Mẫu chất dạng viên nén màu xám trong niêm phong ghi ký hiệu M2, có tổng khối lượng là: 2,087g là ma túy, loại: MDMA.
- - Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong ghi ký hiệu M4, có khối lượng là: 0,035g là ma túy, loại: Ketamine.
Kết luận giám định số 1036/KL-KTHS ngày 27/02/2024 của V - Bộ C1 kết luận:
Chất bột màu cam trong mẫu ký hiệu M3 gửi giám định là ma túy; loại: Methamphetamine, Ketamine và N1. Khối lượng mẫu là 9,11 gam. Khối lượng các chất ma túy Methamphetamine, K1 và N1 được thể hiện dưới bảng sau:
| Ký hiệu | Khối lượng (gam) | ||
|---|---|---|---|
| Methamphetamine | Ketamine | Nimetazepam | |
| M3 | 0,024 | 0,590 | 0,215 |
Tìm thấy các chất ma túy Methamphetamine, K1 và N1 trong mẫu dung dịch màu cam ký hiệu M5 gửi giám định. Thể tích mẫu là 100,0 mL. Nồng độ các chất ma túy Methamphetamine, K1 và N1 được thể hiện dưới bảng sau:
| Ký hiệu | Nồng độ (mg/mL) | ||
|---|---|---|---|
| Methamphetamine | Ketamine | Nimetazepam | |
| M5 | 0,011 | 0,590 | 0,126 |
Kết luận giám định số 1018/KL-KTHS ngày 21/02/2024 của V - Bộ C1 kết luận:
Mẫu khí bên trong bình kim loại hình trụ tròn màu xanh (ký hiệu M6) gửi giám định là khí dinitrogen monoxide (nitrous oxide, N20) hay còn gọi là “khí cười”.
Kết luận giám định số 1438/KL-KTHS ngày 29/3/2024 của V - Bộ C1 kết luận đối với 01 USB ghi lại quá trình kiểm tra tại phòng 302 nhà nghỉ T5.
- - Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung âm thanh, hình ảnh trong các tệp video gửi giám định.
- - Đã trích xuất hình ảnh nam thanh niên mặc áo trắng cộc tay, quần dài trong các tệp video gửi giám định ra thành bản ảnh. (chi tiết thể hiện trong phụ lục kèm theo).
- - Nội dung hội thoại trong tệp video: “20240204_145524.MP4" trong mẫu cần
giám định đã được chuyển thành dạng văn bản. (chi tiết thể hiện trong phụ lục kèm theo).
Về xử lý vật chứng:
Đối với xe ô tô BKS 30H-96540 nhãn hiệu MAZDA màu trắng của Nguyễn Thị Thùy L, ngày 14/3/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H đã trả lại cho anh Vũ Ngọc L1. Anh L1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì khác.
Về trách nhiệm dân sự:
Anh T1 không yêu cầu L phải trả số tiền 900.000 đồng mua bình khí cười. Đồng thời không đề nghị lấy lại loa và đèn nháy đã cho L mượn.
Chị T2 không yêu cầu T, L trả tiền thuê phòng cũng như tiền mua các đồ vật mà T, L đã sử dụng của nhà nghỉ, không đề nghị trả lại gạt tàn thuốc lá bằng sứ.
Về biện pháp xử phạt vi phạm hành chính:
Ngày 08/04/2024 Công an thành phố H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Vũ Ngọc T1 về hành vi: “Kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ” và Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Đức T, Nguyễn Thị Thùy L về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định.
Quá trình điều tra,
bị cáo Nguyễn Thị Thùy L đã thành khẩn khai báo với cơ quan điều tra về toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Bị cáo T thừa nhận hành vi phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng không thừa nhận hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cùng L. Tuy nhiên đến giai đoạn truy tố T đã thành khẩn khai nhận hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cùng Nguyễn Thị Thùy L. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với vật chứng đã thu giữ, lời khai của người người người làm chứng và các tài liệu thu thập khác có trong hồ sơ vụ án
Tại bản cáo trạng số 50/CT-VKS-TPHY ngày 20/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên truy tố bị cáo Nguyễn Đức T và Nguyễn Thị Thùy L về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Bị cáo T còn bị truy tố về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- - Bị cáo Nguyễn Đức T và Nguyễn Thị Thùy L thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử cho hai bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
- - Đại diện Viện kiểm sát thành phố H: Giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo Nguyễn Thị Thùy L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- +/ Áp dụng: khoản 1 Điều 255; Điều 17, Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55, Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo T. Xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng: điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55, Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo T từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Tổng hợp bị cáo phải chịu từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/02/2024.
- +/ Áp dụng: Khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo L. Xử phạt bị cáo từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/02/2024.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
+ Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị HĐXX tuyên:
Tịch thu cho tiêu hủy:
- + 01 bình kim loại hình trụ tròn màu xanh.
- + 01 hộp cattong niêm phong hoàn mẫu gửi giám định số 230/KL-KTHS(MT) của phòng K3 Công an tỉnh H. Bên trong có chứa: 1,101g ma túy, loại Ketamine trong niêm phong ghi ký hiệu M1; 2,025g ma túy, loại: MDMA trong niêm phong ghi ký hiệu M2; 0,027g ma túy, loại: Ketamine trong niêm phong ghi ký hiệu M4; 01 gạt tàn thuốc lá; các vỏ túi nilon và các vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định.
- + 01 túi màu đen có chữ AIR DIOR; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long bằng giấy màu vàng; 03 vỏ bóng bay màu vàng đều đã qua sử dụng.
- + 01 hộp cattong niêm phong bên trong có 8,97 gam chất bột màu cam và 04 vỏ túi nilon màu đỏ, mẫu ký hiệu M3; 01 chai nhựa nhãn hiệu Lavie, trong chai nhựa chứa dung dịch màu cam, thể tích dung dịch là 80,0mL, mẫu ký hiệu M5.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 màu tím, 01 loa màu đen; 01 đèn màu đen, loại đèn nhấp nháy, đều đã qua sử dụng.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đức T 01 giấy phép lái xe hạng A1, D, số: [...]. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu trắng đều đã qua sử dụng.
+ Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại giai đoạn truy tố, lời khai của người làm chứng, Báo cáo quá trình thực hiện nhiệm vụ của Công an phường H. Phù hợp với nội dung file video mẫu, vật chứng đã thu giữ cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, đã có đủ căn cứ kết luận: Trong khoảng thời gian từ 08 giờ đến 15 giờ ngày 04/02/2024, tại phòng 302 nhà nghỉ T5, đường H, phường H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Thị Thùy L và Nguyễn Đức T có hành vi bàn bạc, thống nhất chuẩn bị công cụ, chất ma túy để cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Khi T và L đang sử dụng trái phép chất ma túy thì bị lực lượng chức năng phát hiện, thu giữ 0,035g Ketamine; 9,11g trong đó có ba loại ma túy với khối lượng cụ thể: 0,024g Methamphetamine; 0,590g Ketamine; 0,215g Nimetazepam; 01 chai nước Lavie bên trong có dung dịch màu cam có thể tích 100 ml, trong đó có chứa nồng độ cồn các chất ma túy cụ thể: 0,011 mg/ml Methamphetamine; 0,590 mg/ml Ketamine; 0,126 mg/ml Nimetazepam các bị cáo chưa sử dụng hết. Bị cáo T và L đều thừa nhận đang sử dụng số ma túy nêu trên thì bị Công an phát hiện. Do vậy hành vi của bị cáo T và L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
Ngoài hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cùng với L, T còn có hành vi tàng trữ trái phép 2,087g ma túy loại MDMA và 1,123g ma túy loại Ketamine nhằm mục đích để sử dụng.
Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên truy tố bị cáo T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 và khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Bị cáo L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật, không bị oan sai.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo L thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải về hành vi của mình. Bị cáo T
tại cơ quan điều tra thành khẩn khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, không thừa nhận hành vi phạm tộitổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cùng L, tuy nhiên tại giai đoạn truy tố và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải về hành vi của mình. Vì vậy hai bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo L có ông nội là bệnh binh hạng 2/3 và được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng 2 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về quyết định hình phạt: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được việc sử dụng chất ma túy có tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe cũng như làm suy kiệt về kinh tế, đồng thời là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội thể hiện sự coi thường pháp luật, nên cần thiết phải xử lý nghiêm, bắt các bị cáo cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của từng bị cáo mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Đối với tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy có đồng phạm, trong đó L có vai trò là người khởi xướng, chuẩn bị công cụ sử dụng ma túy, T đóng vai trò là người cung cấp, pha chế ma túy để sử dụng. Cả hai bị cáo là người thực hành tích cực. Bị cáo L đã từng bị Công an thành phố H ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích, lẽ ra bị cáo L phải chịu hình phạt cao hơn bị cáo T. Tuy nhiên, bị cáo L có nhiều tình tiết giảm nhẹ hơn bị cáo T, là phụ nữ, có con nhỏ nên Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tương đương với bị cáo T là phù hợp.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với các bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong tại giai đoạn điều tra nên HĐXX không xem xét giải quyết.
[7] Về xử lý vật chứng:
[7.1] Những vật chứng sau đây là công cụ, phương tiện phạm tội nên tịch thu cho tiêu hủy:
- + 01 bình kim loại hình trụ tròn màu xanh.
- + 01 hộp cattong niêm phong hoàn mẫu gửi giám định số 230/KL-KTHS(MT) của phòng K3 Công an tỉnh H. Bên trong có chứa: 1,101g ma túy, loại Ketamine trong niêm phong ghi ký hiệu M1; 2,025g ma túy, loại: MDMA trong niêm phong ghi ký hiệu M2; 0,027g ma túy, loại: Ketamine trong niêm phong ghi ký hiệu M4; 01 gạt tàn thuốc lá; các vỏ túi nilon và các vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định.
- + 01 túi màu đen có chữ AIR DIOR; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long bằng giấy màu vàng; 03 vỏ bóng bay màu vàng; đều đã qua sử dụng.
- + 01 hộp cattong niêm phong bên trong có 8,97 gam chất bột màu cam và 04 vỏ túi nilon màu đỏ, mẫu ký hiệu M3; 01 chai nhựa nhãn hiệu Lavie, trong chai nhựa chứa dung dịch màu cam, thể tích dung dịch là 80,0mL, mẫu ký hiệu M5.
[7.2] Đối với 01 ông hút được cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng; 01 loa màu đen; 01 đèn màu đen, loại đèn nhấp nháy, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 màu tím của bị cáo L. Các bị cáo sử dụng làm công cụ, phương tiện liên lạc phạm tội sẽ tịch thu sung quỹ nhà nước.
- - Đối với giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Đức T là giấy tờ nhân thân của bị cáo nên trả lại cho bị cáo T.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu trắng của bị cáo T không sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo T.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Các vấn đề khác:
Đối với nguồn gốc “bình khí cười” Vũ Ngọc T1 khai nhận: Khoảng tháng 01 năm 2024 T1 có lên mạng xã hội Face book thấy có một tài khoản Face book đăng bán một “bình khí cười” với giá 300.000 đồng, T1 liên hệ và mua được của người này với giá 300.000 đồng tại khu vực quận L, TP Hà Nội. Sau đó T1 để ở nhà đến ngày 04/02/2024 khi L hỏi mua thì T1 mang bán cho L với giá 900.000 đồng, T1 không biết thông tin địa chỉ của người bán bình khí cười cho mình, do là tài khoản Face book và mua bán trên mạng T1 không hỏi rõ thông tin địa chỉ, không nhớ tài khoản Face book của người này, các phần nhắn tin và gọi điện qua Messenger T4 đã xóa đi hết. Ngày 08/04/2024 Công an thành phố H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Vũ Ngọc T1 về hành vi: “Kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ”.
Đối với việc L và T sử dụng ma túy T1 không biết nên không có căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự đối với T1 là đúng quy định pháp luật. Mặt khác T1 không yêu cầu đề nghị nhận lại loa, đèn nháy, không yêu cầu L phải bồi thường dân sự cho T1, nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Đối với chị Phạm Thị T2 là chủ nhà nghỉ T5: Khi phát hiện tại phòng 302 có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy đã thông báo cho lực lượng công an tiến hành kiểm tra. Do đó Cơ quan Công an không xử phạt đối với chị T2 là đúng quy định pháp luật.
Đối với nguồn gốc số ma túy Nguyễn Đức T khai nhận mua của một người nam giới tại khu vực Thiên Đường B, huyện H, thành phố Hà Nội với giá 4.000.000 đồng. T không biết thông tin địa chỉ của người bán ma túy, khi mua không có ai chứng kiến, biết việc, nên không có căn cứ để xác minh, xử lý là đúng quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm i khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 255; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55, Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Đức T.
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị Thùy L.
Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
[1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Bị cáo Nguyễn Thị Thùy L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
[2] Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức T 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 02 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tổng hợp bị cáo T phải chịu 04 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 05/02/2024.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thùy L 02 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 05/02/2024.
[3] Về xử lý vật chứng:
[3.1]Tịch thu cho tiêu hủy:
- + 01 bình kim loại hình trụ tròn màu xanh.
- + 01 hộp cattong niêm phong hoàn mẫu gửi giám định số 230/KL-KTHS(MT) của phòng K3 Công an tỉnh H. Bên trong có chứa: 1,101g ma túy, loại Ketamine trong niêm phong ghi ký hiệu M1; 2,025g ma túy, loại: MDMA trong niêm phong ghi ký hiệu M2; 0,027g ma túy, loại: Ketamine trong niêm phong ghi ký hiệu M4; 01 gạt tàn thuốc lá; các vỏ túi nilon và các vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định.
- + 01 túi màu đen có chữ AIR DIOR; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long bằng giấy màu vàng; 03 vỏ bóng bay màu vàng; đều đã qua sử dụng.
- + 01 hộp cattong niêm phong bên trong có 8,97 gam chất bột màu cam và 04 vỏ túi nilon màu đỏ, mẫu ký hiệu M3; 01 chai nhựa nhãn hiệu Lavie, trong chai nhựa chứa dung dịch màu cam, thể tích dung dịch là 80,0mL, mẫu ký hiệu M5.
[3.2] Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng; 01 loa màu đen; 01 đèn màu đen, loại đèn nhấp nháy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 màu tím, đều đã qua sử dụng.
[3.3] Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đức T điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu trắng. 01 giấy phép lái xe hạng A1, D, số: [...].
(Số lượng, đặc điểm của vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/6/2024 giữa cơ quan CSĐT Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hưng Yên).
[4] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Đức T và Nguyễn Thị Thùy L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Đức T và Nguyễn Thị Thùy L được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Kim Anh |
Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN - TỈNH HƯNG YÊN về vụ án hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 60/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN - TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T, H tổ chức sử dụng ma túy
