Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN KIẾN AN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2024/HS-ST

Ngày 31-5-2024

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:

Bà Phạm Thị Ngọc Ngà

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Trúc Hoa

Bà Hoàng Thị Chính

- Thư ký phiên toà: Bà Mai Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Cường - Kiểm sát viên

Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 46/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 và Thông báo thay đổi lịch phiên toà số 57/2024/TB-TA ngày 21 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Phạm Văn T, sinh ngày 16 tháng 7 năm 1967 tại Hải Phòng, nơi cư trú: tổ L, phường N, quận K, thành phố Hải Phòng; trình độ văn hóa: 07/10; nghề nghiệp: Tự do; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phạm Văn N, đã chết và bà Đặng Thị B; vợ là Trần Thị L, có 02 con, lớn sinh năm 1989, nhỏ sinh năm 1991; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 19/9/2023 đến ngày 28/9/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  2. Đặng Văn M, sinh ngày 29 tháng 12 năm 1988 tại Hải Phòng, nơi cư trú: Tổ L, phường N, quận K, thành phố Hải Phòng; trình độ văn hóa: 07/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Đặng Văn Q và bà Đặng Thị L1; có vợ là Đặng Thị Lệ Q1, có 3 con, con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 20/9/2023 đến ngày 28/9/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  3. Lưu Hoàng V, sinh ngày 01 tháng 10 năm 1983 tại Hải Phòng, nơi ĐKHKTT: Tổ Đ, phường V, quận K, thành phố Hải Phòng; chỗ ở hiện tại: TDP Q, phường Đ, quận D, thành phố Hải Phòng; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Tự do; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lưu Phú S và bà Lê Minh N1; vợ là Phạm Thị H và 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Có 02 tiền án:
    • - Bản án số 12/2014/HS-ST ngày 24/02/2014, Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, thời gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (đã được xoá án tích).
    • - Bản án số 48/2015/HS-ST ngày 14/10/2015, Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xử phạt 15 tháng tù về tội “Đánh bạc” (đã được xoá án tích).
    Tạm giữ từ ngày 19/9/2023 đến ngày 28/9/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  4. Đặng Quang D, sinh ngày 17 tháng 5 năm 1985 tại Hải Phòng, nơi cư trú: tổ L, phường N, quận K, thành phố Hải Phòng; trình độ văn hóa: 09/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Đặng Quang T1, đã chết và bà Phạm Thị X; có vợ là Bùi Thị Thanh T2, có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 19/9/2023 đến ngày 28/09/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  5. Phạm Văn C, sinh ngày 17 tháng 4 năm 1964 tại Hải Phòng, nơi cư trú: tổ L, phường N, quận K, thành phố Hải Phòng; trình độ văn hóa: 07/10; nghề nghiệp: Tự do; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phạm Văn N và bà Đặng Thị B, đều đã chết; vợ là Nguyễn Thị H1; có 02 con, lớn sinh năm 1989, nhỏ sinh năm 1991; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 19/9/2023 đến ngày 28/9/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  6. Bùi Đức C1, sinh ngày 14 tháng 12 năm 1975 tại Hải Phòng, nơi ĐKHKTT: tổ Đ, phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Số E đường N, tổ L, phường N, quận K, thành phố Hải Phòng; trình độ văn hóa: 09/12; nghề nghiệp: Tự do; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Bùi Đức Ý, đã chết và bà Nguyễn Thị N2; vợ là Phạm Thị H2 và 03 con, con lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 19/9/2023 đến ngày 28/9/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  7. Phạm Văn T3, sinh ngày 7 tháng 8 năm 1986 tại Hải Phòng, nơi cư trú: Số E L, phường N, quận K, thành phố Hải Phòng; trình độ văn hóa: 11/12; nghề nghiệp: Tự do; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phạm Văn V1 và bà Đặng Thị L2; vợ là Phạm Thị Thùy L3 và 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 19/9/2023 đến ngày 28/9/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  8. Trần Văn T4, sinh ngày 22 tháng 9 năm 1991 tại Hải Phòng, nơi cư trú: tổ L, phường N, quận K, thành phố Hải Phòng; trình độ văn hóa: 07/12; nghề nghiệp: Tự do; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Văn Y và bà Phạm Thị T5; vợ là Bùi Thị V2 và có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/3/2024; có mặt.
  9. Trần Văn T6, sinh ngày 22 tháng 9 năm 1991 tại Hải Phòng, nơi cư trú: Số I L, L, phường N, quận K, thành phố Hải Phòng; trình độ văn hóa: 06/12; nghề nghiệp: Lái xe; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Văn Y và bà Phạm Thị T5; vợ là Vũ Thị Hồng P và có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/3/2024; có mặt.

- Người làm chứng: Anh Đặng Văn Đ, ông Phạm Văn T7, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 19/9/2023, Phạm Văn C, Bùi Đức C1, Lưu Hoàng V, Phạm Văn T3, Đặng Quang D, Đặng Văn M, Trần Văn T6 và Trần Văn T4 đến nhà Phạm Văn T tại số E đường N thuộc tổ L, phường N, quận K, thành phố Hải Phòng chơi. Tại đây các đối tượng trên cùng rủ nhau đánh bạc ăn tiền dưới hình thức chơi xóc đĩa. T đồng ý cho C, C1, V, T3, D, M, T6 và T4 đánh bạc tại nhà T để thu tiền hồ kiếm lời, mỗi đối tượng đánh bạc sẽ nộp cho T từ 30.000 đồng đến 50.000 đồng khi kết thúc việc đánh bạc. Thức đã sắp đặt, hướng dẫn cho các đối tượng đánh bạc lối thoát khi bị vây bắt, rồi đi ra đầu ngõ canh gác để thông báo cho các đối tượng đánh bạc khi có lực lượng chức năng kiểm tra. Khi chơi đánh bạc, M là người cầm bát sứ, đĩa sứ, vị (được cắt ra từ lá bài tây) có sẵn tại nhà T để làm nhà cái (xóc cái). Quá trình chơi, các đối tượng không quy định mức tối đa hoặc tối thiểu đặt tiền mỗi ván chơi. Cách thức chơi, M sẽ cho 4 quân vị lên đĩa, dùng bát đậy kín và xóc đĩa xong rồi đặt xuống bàn. Sau đó, C, C1, V, T3, D, T6 và T4 sẽ đặt tiền cược vào mục chẵn (4 quân vị rơi vào các trường hợp sau: 4 đỏ, 4 đen, 2 đỏ, 2 đen) hoặc lẻ (4 quân vị rơi vào các trường hợp sau: 3 đỏ 1 đen, 1 đỏ 3 đen). Đặt cược xong, M sẽ mở đĩa tính chẵn, lẻ để xác định thắng thua. Mậu, C, C1, V, T3, D, T6 và T4 cùng nhau đánh bạc đến khoảng 16 giờ 20 phút cùng ngày thì T phát hiện có lực lượng Công an đến kiểm tra, T thông báo cho các đối tượng đang đánh bạc trong nhà biết. Các đối tượng cất giấu hết tiền đánh bạc vào trong túi quần rồi bỏ chạy. Tổ công tác Công an quận K đã tiến hành bắt giữ Phạm Văn C, Bùi Đức C1, Lưu Hoàng V, Phạm Văn T3, Đặng Quang D còn Trần Văn T6, Trần Văn T4 và Đặng Văn M chạy thoát theo lối thoát T đã sắp đặt hướng dẫn từ trước. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng gồm:

  • Thu giữ tại nhà Phạm Văn T: 01 bát sứ, 01 đĩa sứ màu trắng, 04 quân vị đang trong bộ bát đĩa sứ, 04 quân vị ở dưới chiếu và 01 chiếu tre.
  • Thu giữ của Phạm Văn T 01 điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG và số tiền 6.410.000 đồng trong người.
  • Thu giữ của Phạm Văn C 01 điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG và số tiền 2.550.000 đồng trong người; của Bùi Đức C1 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone và số tiền 1.500.000 đồng trong người; của Lưu Hoàng V 01 điện thoại nhãn hiệu IPHONE và số tiền 850.000 đồng trong người; của Phạm Văn T3 01 điện thoại nhãn hiệu IPHONE và số tiền 910.000 đồng trong người; của Đặng Quang D 02 điện thoại nhãn hiệu IPHONE và số tiền 5.540.000 đồng.

Ngày 20/9/2023, Đặng Văn M đến Công an quận K đầu thú. Ngày 01/3/2024, Trần Văn T6 và Trần Văn T4 đến Công an quận K trình diện. Quá trình điều tra, các bị cáo khai nhận toàn bộ nội dung như đã nêu trên. Số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc, cụ thể:

  • - Đặng Quang D có khoảng 5.000.000 đồng, khi bị bắt D đang thắng và có 5.540.000 đồng.
  • - Phạm Văn C có khoảng 2.700.000 đồng, khi bị bắt chức đang thua và còn 2.550.000 đồng.
  • - Đặng Văn M có khoảng 1.700.000 đồng, khi bị bắt M đang thua và còn 1.100.000 đồng. M đã tự nguyện giao nộp số tiền đánh bạc là 1.100.000 đồng.
  • - Bùi Đức C1 có khoảng 1.500.000 đồng, khi bị bắt C1 đang hoà và còn 1.500.000 đồng.
  • - Phạm Văn T3 có khoảng 960.000 đồng, khi bị bắt T3 đang thua và còn 910.000 đồng.
  • - Lưu Hoàng V có khoảng 900.000 đồng, khi bị bắt V đang thua và còn 850.000 đồng.
  • - Trần Văn T6 có khoảng 800.000 đồng, khi bị bắt T6 đang hoà và còn 800.000 đồng. T6 đã tự nguyện giao nộp số tiền đánh bạc là 800.000 đồng.
  • - Trần Văn T4 có khoảng 300.000 đồng, khi bị bắt T4 đang thắng và có 500.000 đồng. T4 đã tự nguyện giao nộp số tiền đánh bạc là 500.000 đồng.

Quá trình điều tra đã xác định tổng số tiền các đối tượng sử dụng đánh bạc vào ngày 19/9/2023 tại nhà số E đường N thuộc tổ L, phường N, quận K, thành phố Hải Phòng là 13.750.000 đồng. Ngoài ra, T khai số tiền 6.410.000 đồng thu giữ trong người Phạm Văn T, là tiền trả công thợ xây nhà, ngày 19/9/2023 T chưa thu được tiền hồ. Các bị cáo đều khai nhận tài sản là các máy điện thoại thu giữ không sử dụng vào mục đích để đánh bạc.

Tại Cáo trạng số 49/CT-VKSKA ngày 24/4/2024 Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội “Gá bạc” quy định tại điểm d khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; Các bị cáo Phạm Văn C, Bùi Đức C1, Lưu Hoàng V, Phạm Văn T3, Đặng Quang D, Đặng Văn M, Trần Văn T6, Trần Văn T4 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến gì về bản cáo trạng.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung bản cáo trạng và nộp bổ sung cho Toà án các biên lai nộp tiền ngày 31/5/2024 với tổng số tiền nộp là 2.400.000đ là số tiền các bị cáo Trần Văn T4, Trần Văn T6, Đặng Văn M đã tự nguyện giao nộp cho Viện kiểm sát ngày 24/4/2024 và nộp theo Quyết định chuyển vật chứng ngày 24/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An.

Sau phần xét hỏi, Kiểm sát viên trình bày quan điểm luận tội:

Căn cứ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm d khoản 1, khoản 3 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Văn T xử phạt bị cáo: Từ 21 - 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 42 - 48 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt tiền 20.000.000₫ – 30.000.000đ.

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Văn C, Bùi Đức C1, Phạm Văn T3, Đặng Quang D, Đặng Văn M, xử phạt:

  • Bị cáo Đặng Quang D: 21 – 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 42 – 48 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Bị cáo Đặng Văn M: 21 – 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 42 – 48 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Bị cáo Phạm Văn C: 15 – 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 – 36 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Bị cáo Bùi Đức C1: 15 – 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 – 36 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Bị cáo Phạm Văn T3: 12 – 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 – 30 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Phạt tiền mỗi bị cáo 10.000.000₫ – 20.000.000đ.

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lưu Hoàng V xử phạt: 12-15 tháng tù. Phạt tiền bị cáo 10.000.000₫ – 20.000.000₫.

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 36 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Văn T6, Trần Văn T4 xử phạt:

  • Bị cáo Trần Văn T6: 09 - 12 tháng cải tạo không giam giữ.
  • Bị cáo Trần Văn T4: 09 -12 tháng cải tạo không giam giữ.

Phạt tiền mỗi bị cáo 10.000.000₫ – 20.000.000đ.

Miễn khấu trừ thu nhập cho hai bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị HĐXX tuyên:

  • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 11.350.000đ theo uỷ nhiệm chi ngày 31/5/2024 và số tiền 2.400.000đ các bị cáo M, T4, T6 tự nguyện giao nộp.
  • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 08 quân vị, 01 chiếu tre.

Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm (trừ bị cáo C là người cao tuổi được miễn án phí) và các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với quan điểm của kiểm sát viên, trừ bị cáo C1 cho rằng mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là có phần cao hơn các bị cáo khác. Tại phần nói lời sau cùng: Các bị cáo đều nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ân hận về hành vi của mình, các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử khoan hồng, cho các bị cáo mức án thấp và xin được cải tạo ngoài xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dụng vụ án, trên cơ sở các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận K, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không ai có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về nội dung:

[2] Về tội danh: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở kết luận:

Trong khoảng thời gian từ 16 giờ đến 16 giờ 20 phút ngày 19/9/2023, bị cáo Phạm Văn T đã có hành vi sử dụng nhà mình tại số E đường N thuộc tổ L, phường N, quận K, thành phố Hải Phòng cho các đối tượng khác đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa ăn tiền để thu tiền hồ, có hành vi thực hiện việc canh gác cho các con bạc, chỉ dẫn cho các con bạc lối thoát khi bị phát hiện, nên đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Gá bạc” theo quy định tại Điều 322 Bộ luật Hình sự.

Đối với các bị cáo Phạm Văn C, Bùi Đức C1, Lưu Hoàng V, Phạm Văn T3, Đặng Quang D, Đặng Văn M, Trần Văn T6, Trần Văn T4 đã thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức chơi xóc đĩa ăn tiền trong khoảng thời gian từ 16 giờ đến 16 giờ 20 phút ngày 19/9/2023, tại nhà của bị cáo T tại số E đường N thuộc tổ L, phường N, quận K, thành phố Hải Phòng, tổng số tiền đánh bạc của các bị cáo là 13.750.000 đồng, nên đủ cơ sở kết luận các bị cáo Phạm Văn C, Bùi Đức C1, Lưu Hoàng V, Phạm Văn T3, Đặng Quang D, Đặng Văn M, Trần Văn T6, Trần Văn T4 đồng phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự.

[3] Về tình tiết định khung hình phạt:

- Đối với tội “Gá bạc”: Bị cáo Phạm Văn T đã có hành vi sử dụng nhà mình tại số E đường N thuộc tổ L, phường N, quận K, thành phố Hải Phòng chứa chấp các đối tượng khác đánh bạc, thực hiện việc canh gác cho các con bạc trong lúc chơi, chỉ dẫn cho các con bạc lối thoát khi có cơ quan chức năng phát hiện nên phạm vào tình tiết định khung tại điểm d khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự.

- Đối với tội “Đánh bạc”: Các bị cáo Phạm Văn C, Bùi Đức C1, Lưu Hoàng V, Phạm Văn T3, Đặng Quang D, Đặng Văn M, Trần Văn T6, Trần Văn T4 đã thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức chơi xóc đĩa ăn tiền trong khoảng thời gian từ 16 giờ đến 16 giờ 20 phút ngày 19/9/2023, tại nhà của bị cáo T tại số E đường N thuộc tổ L, phường N, quận K, thành phố Hải Phòng, tổng số tiền đánh bạc của các bị cáo là 13.750.000 đồng nên bị xét xử theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

[4] Tính chất vụ án là nghiêm trọng đối với tội Gá bạc và ít nghiêm trọng đối với tội Đánh bạc, hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, trị an tại địa phương, là nguyên nhân gây ra nhiều tội phạm khác nên cần xét xử nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[5] Về vai trò:

Đối với tội “Đánh bạc”: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Các bị cáo bột phát nảy sinh ý định chơi đánh bạc, tiếp nhận ý chí của nhau và cùng thực hiện hành vi đánh bạc nên các bị cáo đều tham gia với vai trò là người thực hành, tổng số tiền các bị cáo đánh bạc là 13.750.000 đồng. Trong đó:

  • Bị cáo Đặng Quang D tham gia đánh bạc với số tiền cao nhất là 5.540.000đ. Bị cáo Đặng Văn M tham gia đánh bạc với số tiền 1.100.000đ ít hơn bị cáo D, tuy nhiên, bị cáo M lại tham gia phạm tội với vai trò là người xóc cái, cầm bát sứ, đĩa sứ, vị có sẵn để làm nhà cái, là người xác định thắng thua nên vai trò của bị cáo D và bị cáo M là ngang nhau và cao nhất.
  • Bị cáo C tham gia đánh bạc với số tiền 2.550.000đ; Bị cáo C1 tham gia đánh bạc với số tiền 1.500.000đ nên có vai trò của hai bị cáo thấp hơn bị cáo D, M.
  • Bị cáo T3 tham gia đánh bạc với số tiền 910.000đ, bị cáo V tham gia đánh bạc với số tiền 850.000₫ nên vai trò thấp hơn bị cáo C, bị cáo C1.
  • Bị cáo T6 tham gia đánh bạc với số tiền 800.000đ, bị cáo T4 tham gia đánh bạc với số tiền 500.000đ nên vai trò bị cáo T6 cao hơn bị cáo T4 và thấp hơn bị cáo T3.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[7.1] Về nhân thân: Đối với bị cáo Lưu Hoàng V nhân thân có 2 tiền án:

  • + Bản án số 12/2014/HS-ST ngày 24/02/2014, Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, thời gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đã chấp hành xong thời gian thử thách của án treo là 12 tháng từ ngày 24/02/2015. Ngày 24/02/2014 đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm, ngày 02/4/2014 thi hành xong số tiền nộp phạt, ngày 02/4/2015 thi hành xong lãi suất chậm thi hành án.
  • + Bản án số 48/2015/HS-ST ngày 14/10/2015, Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xử phạt 15 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Ngày 17/01/2020 đã chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 14/10/2015, đã nộp án phí hình sự sơ thẩm, thi hành xong số tiền tịch thu sung quỹ nhà nước ngày 9/12/2015; đã nộp tiền phạt ngày 25/3/2019. Như vậy, căn cứ Điều 71, Điều 73 Bộ luật Hình sự 02 tiền án trên đã được xoá án tích nhưng vẫn coi bị cáo V có nhân thân xấu.

[7.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo sau khi phạm tội tất cả đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với cả 9 bị cáo.

Các bị cáo Phạm Văn C, Bùi Đức C1, Phạm Văn T3, Đặng Quang D, Đặng Văn M, Trần Văn T6, Trần Văn T4 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo C hiện là người cao tuổi (trên 60 tuổi), bị cáo M sau khi phạm tội đã ra đầu thú, bị cáo C1 có anh trai là liệt sỹ, các bị cáo C, T3, D, M, T6, T4 trước khi xét xử đã nộp trước một phần tiền phạt. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo Phạm Văn C, Bùi Đức C1, Phạm Văn T3, Đặng Quang D, Đặng Văn M, Trần Văn T6, Trần Văn T4 quy định tại điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo T trước khi xét xử đã nộp trước một phần tiền phạt nên áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[8] Về hình phạt: Căn cứ nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

[8.1] Đối với bị cáo V: Căn cứ tính chất vụ án, hành vi phạm tội, vai trò, nhân thân của bị cáo V, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo V mặc dù tham gia phạm tội với vai trò thấp hơn bị cáo D, M, C, C1, T3 nhưng xét nhân thân bị cáo không tốt, bị cáo đã có 02 tiền án đều về tội Đánh bạc, lần phạm tội này bị cáo lại tiếp tục phạm tội Đánh bạc, bị cáo có ít tình tiết giảm nhẹ hơn so với các bị cáo khác nên cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội và áp dụng mức án nghiêm trên mức khởi điểm của khung hình phạt tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo V mới đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

[8.2] Đối với các bị cáo Phạm Văn T, Phạm Văn C, Bùi Đức C1, Phạm Văn T3, Đặng Quang D, Đặng Văn M, Trần Văn T6, Trần Văn T4:

Cần áp dụng mức hình phạt của bị cáo T cao nhất. Áp dụng mức hình phạt của bị cáo D, M là thấp hơn bị cáo T và ngang bằng nhau; Số tiền bị cáo C tham gia đánh bạc nhiều hơn bị cáo C1 nhưng bị cáo C có nhiều tình tiết giảm nhẹ hơn bị cáo C1 nên cần áp dụng hình phạt của bị cáo C, C1 là ngang nhau và thấp hơn mức hình phạt của bị cáo D, M. Mức hình phạt của bị cáo T3, T6, T4 là thấp hơn các bị cáo khác.

Xét các bị cáo T, C, C1, T3, D, M phạm tội lần đầu, nhân thân các bị cáo tốt, không tiền án, tiền sự; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự, các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, bản thân các bị cáo từ khi phạm tội đến nay luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật tại địa phương nên không cần thiết bắt các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự là tương xứng với nhân thân, tính chất, hành vi phạm tội của các bị cáo.

Bị cáo Trần Văn T6, Trần Văn T4 đều phạm tội ít nghiêm trọng và có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, các bị cáo tham gia phạm tội với vai trò thấp hơn các bị cáo khác nên không cần thiết phải cách ly khỏi đời sống xã hội áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo T6, bị cáo T4 theo quy định tại Điều 36 Bộ luật Hình sự là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và cũng là thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú và gia đình quản lý cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

Các bị cáo Trần Văn T6, Trần Văn T4 làm nghề tự do, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử miễn việc khấu trừ thu nhập cho các bị cáo T6, T4.

[9] Về hình phạt bổ sung:

Ngoài hình phạt chính cần áp dụng khoản 3 Điều 322 Bộ luật Hình sự phạt tiền bị cáo T mức 20.000.000 đồng, bị cáo đã nộp 3.000.000đ, còn lại phải nộp 17.000.000đ.

Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự phạt tiền các bị cáo Phạm Văn C, Bùi Đức C1, Lưu Hoàng V, Phạm Văn T3, Đặng Quang D, Đặng Văn M, Trần Văn T6, Trần Văn T4 mỗi bị cáo mức 10.000.000 đồng sung quỹ nhà nước. Các bị cáo Phạm Văn C, Phạm Văn T3, Đặng Quang D, Đặng Văn M, Trần Văn T6, Trần Văn T4 mỗi bị cáo đã nộp trước 5.000.000₫, mỗi bị cáo còn phải nộp 5.000.000₫.

[10] Về xử lý vật chứng:

Trong quá trình điều tra, truy tố đã tiến hành thu giữ:

  • -Số tiền 11.350.000đ theo Uỷ nhiệm chi ngày 31/5/2024 của Công an quận K đến đơn vị nhận tiền là Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An.
  • - Số tiền 1.100.000đ do bị cáo M giao nộp, số tiền 800.000đ của bị cáo T6 nộp, số tiền 500.000đ của bị cáo T4 giao nộp tại giai đoạn truy tố theo các biên lai nộp tiền số 0004355, 0004357, 0004356 ngày 31/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An.
  • - 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 08 quân vị, 01 chiếu tre kích thước 1,5m x 1,9m.

Hội đồng xét xử xét:

  • - Đối với số tiền 11.350.000đ; số tiền 1.100.000₫ do bị cáo M giao nộp, số tiền 800.000₫ của bị cáo T6 nộp, số tiền 500.000đ của bị cáo T4 giao nộp là tài sản các bị cáo đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
  • - Đối với 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 08 quân vị, 01 chiếu tre là vật không còn giá trị sử dung nên tịch thu tiêu huỷ.

[11] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo Phạm Văn C là người cao tuổi, có đề nghị miễn án phí nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm d khoản 1, khoản 3 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Văn T.

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Văn C, Bùi Đức C1, Phạm Văn T3, Đặng Quang D, Đặng Văn M.

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lưu Hoàng V.

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 36 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Văn T6, Trần Văn T4.

Tuyên bố:

  1. Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Gá bạc”.
  2. Các bị cáo Phạm Văn C, Bùi Đức C1, Lưu Hoàng V, Phạm Văn T3, Đặng Quang D, Đặng Văn M, Trần Văn T6, Trần Văn T4 đồng phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt:

  1. Bị cáo Phạm Văn T: 24 (Hai mươi tư) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Phạt tiền bị cáo Phạm Văn T: 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng). Bị cáo đã nộp 3.000.000₫ (Ba triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0004345 ngày 29/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An, thành phố Hải Phòng. Bị cáo còn phải nộp 17.000.000đ (Mười bảy triệu đồng).

  2. Bị cáo Đặng Văn M: 21 (Hai mươi mốt) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 42 (Bốn mươi hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Phạt tiền bị cáo Đặng Văn M: 10.000.000đ (Mười triệu đồng). Bị cáo đã nộp 5.000.000₫ theo biên lai thu tiền số 0004348 ngày 30/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An, thành phố Hải Phòng, bị cáo còn phải nộp 5.000.000đ (Năm triệu đồng).

  3. Bị cáo Đặng Quang D: 21 (Hai mươi mốt) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 42 (Bốn mươi hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Phạt tiền bị cáo Đặng Quang D: 10.000.000₫ (Mười triệu đồng). Bị cáo đã nộp 5.000.000đ theo biên lai thu tiền số 0004350 ngày 30/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An, thành phố Hải Phòng. Bị cáo còn phải nộp 5.000.000đ (Năm triệu đồng).

  4. Bị cáo Phạm Văn C: 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Phạt tiền bị cáo Phạm Văn C: 10.000.000₫ (Mười triệu đồng). Bị cáo đã nộp 5.000.000đ theo biên lai thu tiền số 0004347 ngày 30/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An, thành phố Hải Phòng. Bị cáo còn phải nộp 5.000.000đ (Năm triệu đồng).

  5. Bị cáo Bùi Đức C1: 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Phạt tiền bị cáo Bùi Đức C1: 10.000.000đ (Mười triệu đồng).

  6. Bị cáo Phạm Văn T3: 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Phạt tiền bị cáo Phạm Văn T3: 10.000.000đ (Mười triệu đồng). Bị cáo đã nộp 5.000.000đ theo biên lai thu tiền số 0004349 ngày 30/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An, thành phố Hải Phòng. Bị cáo còn phải nộp 5.000.000đ (Năm triệu đồng).

Giao các bị cáo Phạm Văn T, Đặng Văn M, Đặng Quang D, Phạm Văn C, Bùi Đức C1, Phạm Văn T3 cho Ủy ban nhân dân phường N, quận K, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự như sau:

“1. Người chấp hành án có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.

2. Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giao dục kèm theo tài liệu có liên quan.

3. Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.

4. Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách”.

  1. Bị cáo Lưu Hoàng V: 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, trừ cho bị cáo các ngày tạm giữ từ ngày 19/9/2023 đến ngày 28/9/2023. Phạt tiền bị cáo Lưu Hoàng V: 10.000.000đ (Mười triệu đồng).

    Tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Lưu Hoàng V. Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành án phạt tù.

  2. Bị cáo Trần Văn T6: 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ.
  3. Bị cáo Trần Văn T4: 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ.

    Phạt tiền mỗi bị cáo Trần Văn T6, Trần Văn T4 10.000.000đ. Bị cáo Trần Văn T6, Trần Văn T4 mỗi bị cáo đã nộp 5.000.000đ theo biên lai thu tiền số 0004339 và số 0004338 đều nộp ngày 24/5/2024 đều tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An, thành phố Hải Phòng, mỗi bị cáo Trần Văn T6, Trần Văn T4 còn phải nộp 5.000.000đ (Năm triệu đồng).

    Miễn khấu trừ thu nhập cho hai bị cáo Trần Văn T6, Trần Văn T4.

    Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an quận K, thành phố Hải Phòng nhận được quyết định thi hành án.

    Giao các bị cáo Trần Văn T6, Trần Văn T4 cho UBND phường N, quận K, thành phố Hải Phòng giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

    Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án Hình sự:

    “1. Người chấp hành án có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 30 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian chấp hành án, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.

    2. Người chấp hành án khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người chấp hành án khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người chấp hành án vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giao dục kèm theo tài liệu có liên quan.

    3. Việc giải quyết trường hợp người chấp hành án thay đổi nơi cư trú thực hiện theo quy định tại Điều 68 Luật này.

    4. Người chấp hành án không được xuất cảnh trong thời gian chấp hành án.”

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước: Số tiền 11.350.000.000đ theo Uỷ nhiệm chi ngày 31/5/2024 giữa đơn vị trả tiền là Công an quận K với đơn vị nhận tiền là Chi cục Thi hành án dân sự quân Kiến An.
  • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 1.100.000đ theo biên lai nộp tiền số 0004355, số tiền 800.000đ theo biên lai nộp tiền số 0004357, và số tiền 500.000đ theo biên lai nộp tiền số 0004356 đều nộp ngày 31/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.
  • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 08 quân vị, 01 chiếu tre có kích thước 1,5m x 1,9m.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An, thành phố Hải Phòng).

3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: Bị cáo Phạm Văn T, Bùi Đức C1, Lưu Hoàng V, Phạm Văn T3, Đặng Quang D, Đặng Văn M, Trần Văn T6, Trần Văn T4 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Phạm Văn C được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND quận Kiến An;
  • - Cơ quan CSĐT Công an quận Kiến An;
  • - Chi Cục THA dân sự quận Kiến An;
  • - VKSND TP. Hải Phòng;
  • - TAND TP.Hải Phòng;
  • - PV06; PC10 Công an TP. Hải Phòng;
  • - Cơ quan THA hình sự CA quận Kiến An;
  • - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng.
  • - UBND phường nơi các bị cáo cư trú;
  • - Lưu: HSVA, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Ngọc Ngà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 31/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự sơ thẩm (tội gá bạc và tội đánh bạc)

  • Số bản án: 60/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Gá bạc và Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: có tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger