Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30-5-2024

V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG


- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Chọn

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Hồng Xứng

Bà Trần Thị Ngọc Trân

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Tiên – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Phan Tân – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 61/2023/HNGĐST ngày 14 tháng 6 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thùy D, sinh ngày 01/01/1995. Địa chỉ: Tổ D, Ấp K, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang.

- Bị đơn: Ông YU SHOU WEI, sinh ngày 02/10/1987. Địa chỉ: A C, Khóm A, B, Q, T, Đài Loan.

(Bà D có đơn xin vắng mặt, ông YU SHOU WEI vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 22/5/2023 và bản tự khai ngày 14/6/2023 bà Lê Thị Thùy D trình bày: Năm 2013, bà D có quen biết ông YU SHOU WEI qua mai mối, sau khi tìm hiểu có nảy sinh tình cảm, có làm đám cưới theo phong tục tập quán của người Việt Nam, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân tỉnh K vào ngày 28/6/2013.

Sau khi kết hôn, vợ chồng bà chung sống tại Việt Nam được 05 ngày thì ông YU SHOU WEI về Đài Loan làm việc và làm thủ tục bảo lãnh, bà D ở lại Việt Nam học ngôn ngữ Đài Loan. Thời gian đầu vợ chồng bà D còn liên lạc với nhau thông qua người phiên dịch được 02 tháng, từ đó về sau không còn liên lạc nữa. Do khác biệt về phong tục tập quán, ngôn ngữ giao tiếp khác nhau nên vợ chồng không có tiếng nói chung, khoảng cách về địa lý xa, chồng bà D cũng không có ý định bảo lãnh bà D sang Đài Loan đoàn tụ, thời gian chung sống ngắn nên giữa vợ chồng chưa vun đắp được tình cảm, khi có mâu thuẫn không có cơ hội giải quyết.

Nay bà nhận thấy không còn tình cảm vợ chồng, hôn nhân giữa bà và ông YU SHOU WEI không thể duy trì nên bà D yêu cầu ly hôn với ông YU SHOU WEI.

Về con chung, tài sản chung; nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn ông YU SHOU WEI vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án và không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị Thùy D theo thủ tục ủy thác tư pháp hợp lệ của Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về hướng giải quyết vụ án: Về nội dung giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Lê Thị Thùy D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục: Nguyên đơn bà Lê Thị Thùy D có đơn xin vắng mặt, bị đơn ông YU SHOU WEI vắng mặt trong quá trình tiến hành tố tụng. Do vậy căn cứ Điều 228, Điều 238, Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử thống nhất xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2]. Về nội dung: Quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Thị Thùy D và ông YU SHOU WEI là hôn nhân tự nguyện; ông, bà đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân tỉnh K ngày 28/6/2013. Do vậy Hội đồng xét xử nhận định hôn nhân của bà Lê Thị Thùy D và ông YU SHOU WEI là hợp pháp.

Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Lê Thị Thùy D và ông YU SHOU WEI do khác biệt về phong tục tập quán, ngôn ngữ giao tiếp khác nhau nên vợ chồng không có tiếng nói chung, khoảng cách về địa lý xa, thời gian chung sống ngắn nên giữa vợ chồng chưa vun đắp được tình cảm, khi có mâu thuẫn không có cơ hội giải quyết, chồng bà D cũng không có ý định bảo lãnh bà D sang Đài Loan đoàn tụ. Xét thấy hôn nhân giữa bà Lê Thị Thùy D và ông YU SHOU WEI đã lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị Thùy D đối với ông YU SHOU WEI. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Bà Lê Thị Thùy D xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[3]. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, bà Lê Thị Thùy D phải chịu 300.000 đồng, khấu trừ tạm ứng án phí bà A đã nộp.

[4]. Về chi phí thực hiện ủy thác tư pháp: Áp dụng khoản 3 Điều 153 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 7 Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC; Bà Lê Thị Thùy D phải chịu phí ủy thác tư pháp 200.000 đồng, đã nộp theo biên lai thu số 0016633 ngày 14/6/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 38, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 273, điểm d khoản 1 Điều 469, khoản 5 Điều 477, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Thùy D được ly hôn với ông YU SHOU WEI.
  2. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Bà Lê Thị Thùy D xác định không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
  3. Án phí: Bà Lê Thị Thùy D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai 0009777 ngày 09/6/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
  4. Chi phí thực hiện ủy thác tư pháp: Bà Lê Thị Thùy D phải chịu phí ủy thác tư pháp 200.000 đồng, đã nộp theo biên lai thu số 0016633 ngày 14/6/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
  5. Quyền kháng cáo: Bà Lê Thị Thùy D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được Tòa án niêm yết. Riêng ông YU SHOU WEI có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và điều 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung.

Nơi nhận :

  • - VKSND tỉnh Kiên Giang;
  • - THA dân sự tỉnh Kiên Giang;
  • - Sở tư pháp tỉnh Kiên Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Chọn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2024/HNGĐ-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về ly hôn

  • Số bản án: 60/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: D VÀ Y
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger