Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số: 60/2024/HS-ST

Ngày: 28 – 8 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Huy.
Thẩm phán: Ông Trương Vĩnh Hữu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thanh Bá;
Ông Nguyễn Đắc Thắng;
Bà Lý Ngọc Lan.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Hà Phan, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Ngọc, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 53/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 119/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Văn T, sinh ngày 26/12/1997, tại tỉnh Tiền Giang; CCCD số: [...]; đăng ký HKTT: ấp B, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: công nhân; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: lớp 8/12; con ông Trần Văn Q, sinh năm 1976 và Võ Thị M, sinh năm 1978; Bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo T: Luật sư Trần Văn T2, Văn phòng luật sư Hoàng Anh M, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Tiền Giang (có mặt).

* Bị hại: Đinh Vĩnh T3, sinh năm 1998 (có mặt);

Địa chỉ: số X ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Long An.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Trần Văn Q, sinh năm 1976 (có mặt);

Địa chỉ: ấp B, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

* Người làm chứng:

  1. Dương Hoàng N, sinh năm 1990 (vắng mặt);
  2. Địa chỉ: ấp Y, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang.

  3. Bùi Công Luận, sinh năm 1997 (vắng mặt);
  4. Địa chỉ: ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn T biết được Đinh Vĩnh T3, sinh năm 1998, địa chỉ: số X, ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Long An đang quen với bạn gái cũ của T là chị Phạm Thị Thùy T, sinh năm 2001, địa chỉ: ấp Mỹ Trung, xã Hậu Mỹ Bắc B, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang nên T nảy sinh ý định tìm T3 để đánh dằn mặt. Để thực hiện ý định, ngày 06/12/2023, Trần Văn T nộp hồ sơ xin vào làm việc tại Công ty TNHH N Việt Nam (Công ty) thuộc ấp X, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang để có điều kiện tiếp cận anh T3. Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 07/12/2023, T được bố trí làm việc tại Kho thành phẩm, đến 16 giờ 20 cùng ngày, T đi đến hỏi T3 “Mày quen Trang phải hông?”. T3 trả lời “Không có” thì bất ngờ T dùng tay phải lấy con dao đã chuẩn bị sẵn (bằng kim loại có chiều dài 22,5cm; lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 10,3cm; cán dao bằng kim loại màu trắng-xám dài 12,2cm) trong túi quần jean đang mặc, cầm dao bằng tay phải (là tay T3) đứng đối diện với T3 đang ngồi, T cầm dao đâm liên tiếp nhiều nhát trúng vào vùng ngực, vùng bụng của T3 làm T3 té ngã sấp về trước, T tiếp tục dùng dao đâm nhiều nhát trúng vào vùng lưng, vai, cổ và mặt sau tay cánh tay phải anh T3. Do đang nằm dưới nền xi măng nên T3 dùng chân phải đỡ thì bị T đâm trúng cẳng chân phải. Thấy anh Dương Hoàng Ni, sinh năm 1990, địa chỉ ấp Y, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang và Bùi Công Luận, sinh năm 1997, địa chỉ ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Long An truy hô, T cầm dao bỏ chạy khỏi xưởng. Đinh Vĩnh T3 được đưa đi cấp cứu điều trị tại Bệnh viện đa khoa Tiền Giang đến ngày 20/12/2023 xuất viện.

* Kết quả khám nghiệm hiện T:

Thời gian lúc 15 giờ ngày 08/12/2023, tại Công ty TNHH N Việt Nam thuộc ấp 4, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang.

Ghi nhận, khu vực nhà xưởng nằm hướng Bắc của Công ty, sự việc xảy ra tại xưởng đùn ép (khu cuộn ép) trong nhà xưởng; từ vách hướng Bắc nhà xưởng cách về hướng Nam 35,0m và cách hướng Tây nhà xưởng cách về hướng Nam 35,5m và cách vách hướng Tây nhà xưởng về hướng Đông 20,0m trên nền bê tông khu vực máy cuộn ép là vị trí xảy ra sự việc, không phát hiện dấu vết.

Kết luận giám định số 434-2023/KLTTCT-TTPY ngày 13/12/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Tiền Giang kết luận thương tích trên người Đinh Vĩnh T3 như sau:

“- Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Y tế Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Đinh Vĩnh T3 là:35% (Ba mươi lăm phần trăm) theo phương pháp cộng tại Thông tư.

* Kết luận khác:

- Xác định vật gây thương tích:

  • + Vết thương đầu trên xương ức. Vết thương vùng ngực phải, khoảng liên sườn 2, 3. Vết thương cạnh núm vú phải. Vết thương ngực phải khoảng liên sườn 7, 8. Vết thương vùng mũi kiếm xương ức. Vết thương vùng mạn sườn trái. Vết thương trùng vết mổ hố chậu phải. Hai vết thương 1/3 giữa sau cánh tay phải. Vết thương lưng phải, khoảng liên sườn 4, 5. Vết thương lưng trái, khoảng liên sườn 3, 4. Vết thương vùng cổ sau. Vết thương 1/3 trên ngoài cẳng chân phải. Thủng cơ hoành phải, đã phẫu thuật khâu cơ hoành. Vết thương phân thùy VIII gan, điều trị bảo tồn. Thương tích do vật sắc nhọn gây nên.
  • + Vết mổ cạnh dưới rốn. Vết mổ dẫn lưu đường nách giữa bên phải khoảng liên sườn 5, 6. Thương tích do phẫu thuật gây nên.

Tràn khí màng phổi phải, hiện đang điều trị chưa ổn định nên chưa có cơ sở để xếp tỉ lệ. Đề nghị giám định bổ sung khi điều trị ổn định”.

Bản kết luận giám định bổ sung số 18/2024/KLTTCT-TTPY ngày 16/01/2024 kết luận: “Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Đinh Vĩnh T3 là 39%”.

* Vật chứng thu giữ: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tiền Giang đang tạm giữ: 01 (một) con dao bằng kim loại có chiều dài 22,5cm; lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 10,3cm; cán dao bằng kim loại màu trắng – xám dài 12,2cm, cán dao được tạo thành từ hai thanh kim loại dạng thẳng song song nhau trên hai thanh kim loại này có nhiều lỗ rỗng có hình dạng, kích thước khác nhau; có mũi nhọn.

* Trách nhiệm dân sự:

Bị hại Đinh Vĩnh T3 yêu cầu bồi thường số tiền 104.347.086 đồng, gồm tiền bồi thường tổn thất tinh thần: 35.720.000 đồng và chi phí điều trị, phục hồi, ăn uống, thu thập bị mất: 68.627.286 đồng. Bị can đồng ý bồi thường, gia đình bị can đã bồi thường được số tiền 20.000.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 40/CT-VKSTG-P2 ngày 03 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Giết người”, áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 57 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 13 năm đến 14 năm tù; áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 con dao bằng kim loại có chiều dài 22,5cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 10,3cm, cán dao bằng kim loại màu trắng – xám dài 12,2cm; về trách nhiệm dân sự: ghi nhận việc bị cáo đã bồi thường cho bị hại 20.000.000 đồng, buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền còn lại 84.347.086 đồng.

* Ý kiến của Luật sư bào chữa tội cho bị cáo: Thống nhất tội danh mà Viện kiểm sát đề nghị. Hành vi phạm tội của bị cáo không cố ý chiếm đoạt tính mạng bị hại mà chỉ bỏ mặc hậu quả xảy ra, bị cáo không quyết liệt phạm tội nên tính chất nguy hiểm không cao. Hậu quả không xảy ra thuộc T hợp quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 57 Bộ luật hình. Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo đã bồi thường cho bị hại 20.000.000 đồng, thành khẩn khai báo và các tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo phạm tội cố ý gây thương tích nhưng chuyển hóa thành tội giết người. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

* Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo hối hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tiền Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung vụ án:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện T, kết luận giám định và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở xác định:

Do ghen tuông việc anh Đinh Vĩnh T3 có quan hệ tình cảm với bạn gái cũ nên khoảng 16 giờ 20 phút ngày 07/12/2023, tại kho thành phẩm của Công ty TNHH N Việt Nam tại ấp 4, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang, Trần Văn T dùng 01 con dao bằng kim loại có chiều dài 22,5cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 10,3cm, cán dao bằng kim loại màu trắng – xám dài 12,2cm đâm liên tiếp nhiều nhát vào vùng ngực, bụng, lưng, vai cổ và mặt sau cánh tay phải, cẳng chân phải của anh T3 gây tổn thương cơ thể 39%.

Xét thấy, chỉ vì ghen tuông bị hại có tình cảm với người yêu cũ, bị cáo dùng dao bằng kim loại là hung khí nguy hiểm đâm liên tiếp vào vùng trọng yếu trên cơ thể, vào vai cổ và mặt sau cánh tay phải, cẳng chân phải của bị hại, cho đến khi có người truy hô thì bị cáo mới dừng lại. Với chuỗi hành vi này thể hiện rõ tính chất côn đồ, bị cáo muốn tước đoạt tính mạng của bị hại, việc bị hại không chết là ngoài ý muốn của bị cáo. Do vậy, hành vi của bị cáo Trần Văn T là giết người, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.

Theo Kết luận giám định số 434-2023/KLTTCT-TTPY ngày 13/12/2023 và số 18-2024/KLTTCT-TTPY ngày 16/01/2024 của Trung tâm pháp y, Sở Y tế Tiền Giang: “Vết thương đầu trên xương ức. Vết thương vùng ngực phải, khoảng liên sườn 2, 3. Vết thương cạnh núm vú phải. Vết thương ngực phải khoảng liên sườn 7, 8. Vết thương vùng mũi kiếm xương ức. Vết thương vùng mạn sườn trái. Vết thương trùng vết mổ hố chậu phải. Hai vết thương 1/3 giữa sau cánh tay phải. Vết thương lưng phải, khoảng liên sườn 4, 5. Vết thương lưng trái, khoảng liên sườn 3, 4. Vết thương vùng cổ sau. Vết thương 1/3 trên ngoài cẳng chân phải. Thủng cơ hoành phải, đã phẫu thuật khâu cơ hoành. Vết thương phân thùy VIII gan, điều trị bảo tồn. Thương tích do vật sắc nhọn gây nên... Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Đinh Vĩnh T3 là 39%”. Như vậy, trong vụ án này, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi nhằm tước đoạt đoạt tính mạng của bị hại nhưng hậu quả chết người không xảy ra, thuộc T hợp phạm tội chưa đạt quy định tại Điều 15 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo nhận thức được việc không mâu thuẫn với bị hại mà dùng hung khí nguy hiểm đâm nhiều nhát vào vùng trọng yếu trên cơ thể của bị hại có thể gây tử vong nhưng vẫn thực hiện, thể hiện bản tính côn đồ, bị hại không chết là do yếu tố khách quan nằm ngoài ý muốn của bị cáo. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm để cải tạo bị cáo và nhằm răn đe, giáo dục phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ, trong quá trình tố tụng bị cáo có ý thức thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình thể hiện sự ăn năn hối cải, đã bồi thường một phần thiệt hại, có thân nhân là người có công cách mạng là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng, không có.

Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo tốt đối với bị cáo. Bị cáo phạm tội chưa đạt, do vậy, căn cứ Điều 57 của Bộ luật Hình sự cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

* Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ 01 con dao bằng kim loại có chiều dài 22,5cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 10,3cm, cán dao bằng kim loại màu trắng – xám dài 12,2cm. Xét thấy, đây là công cụ mà bị cáo sử dụng phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

* Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại, bị cáo và ông Quí thỏa T3 bị cáo và ông Quí liên đới bồi thường cho bị hại khoản thiệt hại còn lại theo phương thức trả dần hàng tháng, mỗi tháng 5.000.000 đồng, thời hạn thực hiện khi bản án có hiệu lực pháp luật đến khi hết số tiền phải bồi thường. Xét thấy thỏa T3 của các bên là không trái quy định của pháp luật nên công nhận.

[3]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[4]. Xét ý kiến bào chữa của Luật sư là có căn cứ chấp nhận một phần như đã phân tích trên.

[5]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang về tội danh, hình phạt, xử lý vật chứng là có căn cứ chấp nhận. Về trách nhiệm dân sự, cần công nhận thỏa T3 bồi thường thiệt hại của bị hại, bị cáo và ông Quí tại phiên tòa.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Giết người”.

    Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; khoản 1 Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 57 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Trần Văn T 14 năm tù. Thời hạn tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 15/12/2023.

  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 con dao bằng kim loại có chiều dài 22,5cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 10,3cm, cán dao bằng kim loại màu trắng – xám dài 12,2cm.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 590 Bộ luật Dân sự, công nhận thỏa T3 của bị hại, bị cáo và ông Quí như sau: Bị cáo và ông Quí liên đới bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 84.347.086 đồng theo phương thức trả dần hàng tháng, mỗi tháng 5.000.000 đồng, thời hạn thực hiện khi bản án có hiệu lực pháp luật đến khi hết số tiền phải bồi thường.
  4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 4.217000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Tiền Giang;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Tiền Giang;
  • - CTHADS tỉnh Tiền Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tiền Giang;
  • - Phòng KTNV và THA (TAT);
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Lê Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG về hình sự sơ thẩm (tội giết người)

  • Số bản án: 60/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Giết người)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Giết người”. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; khoản 1 Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 57 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn T 14 năm tù. Thời hạn tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 15/12/2023
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger