|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LT TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 60/2024/HS-ST
Ngày 28 -8- 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LT, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Kim Thị Ánh Vân
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Tiến Sửu
Bà Đỗ Thị Thu Hường
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Minh Triều - Thư ký Tòa án nhân dân huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Ngô Trường Út- Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở UBND xã Đ, huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 59/2024/TLST- HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Lê Trung H, sinh ngày 10/02/1994; nơi ĐKHKTT: Thôn L, xã T, huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Trung N và bà Lê Thị Bích T; Vợ, con: Chưa có.
Tiền án: 02 tiền án.
- Bản án số 52/2014/HS-ST ngày 16/9/2014 (ngày phạm tội 22/5/2014), Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt H 04 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, H chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/01/2021, đã chấp hành xong về án phí (ngày 13/01/2015) chưa chấp hành xong về số tiền bị truy thu sung quỹ Nhà nước (2.500.000đ) chưa được xóa án tích.
- Bản án số 61/2014/HS-ST ngày 19/9/2014(ngày phạm tội 02/6/2014), Tòa án nhân dân huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt H 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, H chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/01/2021, chưa chấp xong về án phí, chưa được xóa án tích.
Tiền sự: 01
- Quyết định số 07/QĐ-TA ngày 07/7/2022, bị Tòa án nhân dân huyện M, thành phố Hà Nội Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng. H chấp hành xong ngày 26/11/2023. Chưa được xóa tiền sự.
Nhân thân:
- Bản án số 50 ngày 16/9/2011, Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt H 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, H chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/5/2012 và các quyết định khác của bản án, đã được xóa án tích.
- Bản án số 71/2014/HS-ST ngày 20/10/2014(ngày phạm tội 09/5/2014), Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt H 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 04 năm 06 tháng tù của bản án số 52 ngày 16/9/2014 của Tòa án huyện T và 01 năm 06 tháng tù của bản án số 61 ngày 19/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện LT buộc H phải chấp hành hình phạt của cả ba bản án là 07 năm 03 tháng tù, H chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/01/2021 và các quyết định khác của bản án, đã được xóa án tích.
Bị can bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/5/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Vĩnh Phúc đến nay (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trong khoảng thời gian từ ngày 21/4/2024 đến ngày 01/5/2024, Lê Trung H, sinh năm 1994 ở thôn L, xã T, huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc đã có 02 lần thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại xã T, huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 21/4/2024, H một mình đi bộ từ nhà ra đường rồi đi nhờ xe của người đi đường đến khu vực thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc mục đích để tìm mua ma túy sử dụng. Khoảng 12 giờ 50 phút cùng ngày, khi đi đến khu vực chùa Hà thuộc tổ dân phố Chùa Hà, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, H xuống xe đi bộ được một đoạn thì gặp và mua được của một người đàn ông (không biết tên, tuổi, địa chỉ ) 11 gói ma túy heroine được bọc trong 01 túi nilon với giá 2.000.000 đồng. Sau đó, H đúc ma túy vừa mua được vào túi quần bên trái phía trước H đang mặc rồi đi nhờ xe của người đi đường về nhà. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày khi đi đến địa phận thôn Đ, xã T, huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc, H xuống xe rồi đi đến khu vực cánh đồng vắng người lấy ra 01 gói ma túy để sử dụng bằng hình thức chích. Khi H vừa sử dụng ma túy xong thì bị lực lượng Công an huyện LT phát hiện, bắt quả tang H đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Cơ quan Công an thu giữ 01 túi nilon bên trong có chứa 10 gói nhỏ đều được bọc bên ngoài bằng giấy bạc màu trắng (niêm phong ký hiệu A1) – H khai nhận là ma túy heroine của H mua để sử dụng cho bản thân cùng các vật chứng có liên quan. Cơ quan Công an đưa H về trụ sở Công an xã T lập biên bản theo quy định của pháp luật.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện LT đã ra quyết định trả tự do cho Lê Trung H. Do tình trạng sức khỏe của H không đảm bảo cho việc tạm giữ hình sự (do H bị suy thận cấp).
Tại bản Kết luận giám định số 1112 ngày 25/4/2024, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc, kết luận:
“Chất cục bột màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định có khối lượng 0,9714g (Không phảy chín bảy một bốn gam, không kể bao bì) là ma túy, loại heroine"
Vụ thứ hai: Khoảng 19 giờ 05 phút ngày 29/4/2024, H một mình điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Wave Alpha, không gắn biển kiểm soát đến khu vực Thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc mục đích để mua ma túy sử dụng. Khoảng 20 giờ cùng ngày, khi đi đến khu vực chợ Tổng thuộc tổ dân phố Chợ Tổng, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, H gặp và mua được của một người phụ nữ (không biết tên, tuổi, địa chỉ) 09 gói ma túy heroine được bọc trong 01 túi nilon màu đen với giá 1.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy H cất giấu vào túi quần phía trước bên trái H đang mặc và điều khiển xe mô tô về nhà cất giấu. Đến khoảng 15 giờ 05 phút ngày 01/5/2024, H mang theo số ma túy mua được từ trước đó rồi điều khiển xe mô tô không có biển kiểm sát đi tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 15 giờ 10 phút cùng ngày, khi đang đi trên đường TL307 thuộc thôn L, xã T, huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh Vĩnh Phúc kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại túi quần phía trước bên trái H đang mặc có 01 túi nilon màu đen, bên trong túi có 09 gói nhỏ, bên trong các gói nhỏ đều chứa chất cục bột màu trắng (niêm phong ký hiệu A1) - H khai nhận là ma túy heroine của H mua để sử dụng cho bản thân cùng các vật chứng có liên quan. Cơ quan Công an đưa H về trụ sở Công an xã T lập biên bản theo quy định của pháp luật.
Tại bản Kết luận giám định số 1202 ngày 06/5/2024 đối với số ma túy thu giữ ngày 01/5/2024, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc, kết luận:
“Chất cục bột màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định có khối lượng 0,6131g (Không phảy sáu một ba một gam, không kể bao bì) là ma túy, loại heroine"
Như vậy xác định tổng khối lượng ma túy Lê Trung H phải chịu trách nhiệm là: 0,9714g Heroine (thu giữ ngày 21/4/2024) + 0,6131g Heroine (thu giữ ngày 01/5/2024) = 1,5845g Heroine.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho H ngày 21/4/2024 và người phụ nữ bán ma túy cho H ngày 29/4/2024 tại thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, do H không rõ tên tuổi địa chỉ và không nhận dạng được nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ.
* Vật chứng thu giữ:
- Mẫu A1 có khối lượng 0,9714 gam Heroine thu giữ ngày 21/4/2024 và mẫu A1 có khối lượng 0,6131 gam Heroine thu giữ ngày 01/5/2024, cơ quan giám định hoàn trả lại các mẫu lần lượt là 0,6342 gam và 0,5635 gam là vật Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng; 01 vỏ nhựa nước cất là công cụ để H sử dụng trái phép chất ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia, màu đen đã cũ quá trình điều tra xác định là tài sản của H, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho H nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha màu đen, không gắn biển kiểm sát có số khung RLHJA3924NY730316; số máy JA39E-2927599. Quá trình điều tra H khai chiếc xe trên H mua trên ứng dụng “Chợ tốt” với giá 3.500.000đ vào ngày 29/4/2024, khi mua H không biết chiếc xe mô tô trên là xe vật chứng trong vụ “Trộm cắp tài sản” do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đang thụ lý, giải quyết. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với H trong vụ án này là có căn cứ. Ngày 15/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện LT đã bàn giao chiếc xe máy trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B tiếp tục điều tra theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Lê Trung H đã thành khẩn khai báo rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nêu trên.
Tại Cáo trạng số: 63/CT-VKSLT ngày 15/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện LT truy tố bị cáo Lê Trung H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện LT đề nghị giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Trung H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; áp dụng điểm b khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Lê Trung H từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ tạm giam 01/5/2024. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập, tài sản nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Mẫu vật cơ quan giám định hoàn lại A1 = 0,6342 gam Heroine thu giữ ngày 21/4/2024 và mẫu A1 = 0,5635 gam Heroine thu giữ ngày 01/5/2024 là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng; 01 vỏ nhựa nước cất là công cụ để H sử dụng trái phép chất ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia, màu đen đã cũ quá trình điều tra xác định là tài sản của H, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho H nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha màu đen, không gắn biển kiểm sát có số khung RLHJA3924NY730316; số máy JA39E-2927599. Quá trình điều tra H khai chiếc xe trên H mua trên ứng dụng “Chợ tốt” với giá 3.500.000₫ vào ngày 29/4/2024, khi mua H không biết chiếc xe mô tô trên là xe vật chứng trong vụ “Trộm cắp tài sản” do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đang thụ lý, giải quyết. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với H trong vụ án này là có căn cứ. Ngày 15/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện LT đã bàn giao chiếc xe máy trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B tiếp tục điều tra theo thẩm quyền.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, bị cáo không nói lời sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện LT, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện LT, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự tố tụng của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Trung H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung của bản Cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó có đủ căn cứ khẳng định: Trong khoảng thời gian từ ngày 21/4/2024 đến ngày 01/5/2024, Lê Trung H, sinh năm 1994 ở thôn L xã T, huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc đã có 02 lần thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại xã Thái Hòa, huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc, cụ thể:
Khoảng 15 giờ ngày 21/4/2024, tại thôn Đ, xã T, huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc, Lê Trung H có hành vi tàng trữ trái phép 10 gói ma tuý Heroine khối lượng 0,9714 gam mục đích để sử dụng thì bị lực lượng Công an huyện LT bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.
Khoảng 15 giờ 10 phút ngày 01/5/2024, tại thôn Làng Sen, xã Thái Hòa, huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc, Lê Trung H có hành vi tàng trữ trái phép 09 gói ma tuý Heroine khối lượng 0,6131 gam mục đích để sử dụng thì bị lực lượng Công an tỉnh Vĩnh Phúc bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.
Tổng khối lượng ma túy Lê Trung H tàng trữ trái phép 02 lần là 1,5845 gam Heroine.
[3] Hành vi tàng trữ trái phép 1,5845 gam Heroine của Lê Trung H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
...
b. Phạm tội 02 lần trở lên;"
Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức được tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo để đảm bảo tính răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo là người có nhân thân xấu, có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích; 01 tiền sự chưa được xóa nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học, tiếp tục có hành vi phạm tội. Vì vậy, cần xử lý nghiêm trước pháp luật, cần áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo để đảm bảo tính răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục là cần thiết.
[5] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...", bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập, tài sản, vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Đối với người đàn ông bán ma túy cho H ngày 21/4/2024 và người phụ nữ bán ma túy cho H ngày 29/4/2024 tại thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, H không rõ tên tuổi địa chỉ và không nhận dạng được nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ để xử lý là phù hợp.
[7] Về xử lý vật chứng:
- Mẫu vật cơ quan giám định hoàn lại A1 = 0,6342 gam Heroine thu giữ ngày 21/4/2024 và mẫu A1 = 0,5635 gam Heroine thu giữ ngày 01/5/2024 là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng; 01 vỏ nhựa nước cất là công cụ để H sử dụng trái phép chất ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia, màu đen đã cũ quá trình điều tra xác định là tài sản của H, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho H, nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha màu đen, không gắn biển kiểm sát có số khung RLHJA3924NY730316; số máy JA39E-2927599. Quá trình điều tra H khai chiếc xe trên H mua trên ứng dụng “Chợ tốt” với giá 3.500.000đ vào ngày 29/4/2024, khi mua H không biết chiếc xe mô tô trên là xe vật chứng trong vụ “Trộm cắp tài sản” do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Xuyên đang thụ lý, giải quyết. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với H trong vụ án này là có căn cứ. Ngày 15/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện LT đã bàn giao chiếc xe máy trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Xuyên tiếp tục điều tra theo thẩm quyền là phù hợp.
[8] Về án phí: Bị cáo Lê Trung H pH chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Trung H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Trung H 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 01/5/2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật cơ quan giám định hoàn lại A1 = 0,6342 gam Heroine thu giữ ngày 21/4/2024 và mẫu A1 = 0,5635 gam Heroine thu giữ ngày 01/5/2024 là vật nhà nước cấm lưu hành.
Tịch thu, tiêu hủy 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng; 01 vỏ nhựa nước cất là công cụ để H sử dụng trái phép chất ma túy.
Trả lại Lê Trung H 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia, là điện thoại của H không liên quan đến hành vi phạm tội, nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Vật chứng có đặc điểm như Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 23/8/2024 giữa Công an huyện LT và Chi cục Thi hành án dân sự huyện LT)
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Trung H pH chịu 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND huyện LT; - Cơ quan CSĐT CA huyện LT; - Cơ quan THAHS CA huyện LT; - Nhà tạm giữ CA huyện LT; - Chi cục THADS huyện LT; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HS,VP, THAHS. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Kim Thị Ánh Vân |
Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 60/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Lê Trung H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Trung H 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 01/5/2024.
