|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc
|
Bản án số: 60/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 28 - 6 - 2024
V/v: Tranh chấp ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN DÂN NHÂN HUYỆN LONG MỸ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Lẫm.
- - Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thanh Chắc.
- Bà Trần Thị Út.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tiên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
Ngày 28 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 38/2024/TLST - HN&GĐ ngày 04/3/2024 vụ án " Tranh chấp ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 61/2024/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Võ Văn K, sinh năm: 1967.
- Bị đơn: Bà Phạm Thị N, sinh năm: 1966.
Địa chỉ: Ấp C, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.
Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 04/01/2024 và tại phiên tòa nguyên đơn nguyên ông Võ Văn K trình bày: Vào năm 1988 ông và bà N tổ chức đám cưới nhưng không có đăng ký kết hôn. Sau khi tổ chức đám cưới ông và bà N chung sống hạnh phúc đến năm 2005 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, bà N bỏ nhà đi, ông và bà N đã ly thân từ năm 2005 đến nay. Do thời gian ly thân đã lâu, vợ chồng không thể hàn gắn được, nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà N.
Về con chung: Có 02 con chung tên Võ Thị Hồng N1, sinh năm: 1989 và Võ Thanh G, sinh năm: 1990, con chung đã trưởng thành và có gia đình riêng nên ông không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Đối với bị đơn bà Phạm Thị N đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên chưa có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của ông K.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục: Đối với bị đơn bà Phạm Thị N đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên Hộ đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà Phạm Thị N.
[2] Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Giữa ông Võ Văn K và bà Phạm Thị N xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 1988 nhưng không có đăng ký kết hôn. Theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng”. Tại khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của luật này”. Ông K bà N có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nhưng không đăng ký kết hôn nên ông K, bà N không được pháp luật công nhận là vợ chồng.
[4] Về con chung: Ông Võ Văn K bà Phạm Thị N có 02 con chung Võ Thị Hồng N1, (nữ) sinh năm: 1989 và Võ Thanh G (nam), sinh năm 1990. Chị Võ Thị Hồng N1, anh Võ Thanh G đã trưởng thành và có gia đình riêng, ông K không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Ông Võ Văn K khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Đương sự còn phải chịu án phí theo quy định.
[7] Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 5, 28, 35, 147, 227, 228, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án
Căn cứ vào khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tuyên xử:
Không công nhận ông Võ Văn K và bà Phạm Thị N là vợ chồng.
Về con chung: Chị Võ Thị Hồng N1, (nữ) sinh năm: 1989 và anh Võ Thanh G (nam), sinh năm 1990 đã trưởng thành ông Võ Văn K không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông Võ Văn K khai không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Võ Văn K phải nộp 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) chuyển 300.000 đồng từ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009986 ngày 04/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Mỹ thành án phí sơ thẩm. Ông K đã nộp xong.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn ông Võ Văn K có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 28/6/2024. Bị đơn bà Phạm Thị N có quyền làm đơn khánh cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Lẫm |
Bản án số 60/2024/HNGĐ-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 60/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị K yêu cầu ly hôn với anh N
