Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 60/2023/HNGĐ-ST

Ngày 27-12-2023

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Bà Nguyễn Minh Hằng
  • Bà Mai Thị Duyên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Ninh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 83/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2023 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Anh Phan Văn T; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số A đường N, tổ dân phố T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  • - Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H; nơi cư trú: Số A đường N, tổ dân phố T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 10/7/2023 và bản tự khai nguyên đơn anh Phan Văn T trình bày:

Năm 2002, anh Phan Văn T và chị Nguyễn Thị H lấy nhau trên cơ sở tự nguyện, gia đình hai bên có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán Việt Nam. Nhưng do bận công việc làm ăn xa, nên đến ngày 04 tháng 8 năm 2006 anh và chị H mới làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng

Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống bình thường không có mâu thuẫn gì lớn. Đến đầu năm 2023 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do hai bên bất đồng quan điểm, lối sống. Hơn nữa, do công việc thường xuyên anh phải đi công tác xa nhà vợ chồng không có thời gian gần nhau nên dẫn đến tình vợ chồng ngày càng rạn nứt trầm trọng, từ đó cho đến nay anh và chị H sống ly thân không còn quan hệ về tình cảm. Mâu thuẫn đã được hai bên gia đình phân tích hòa giải nhưng không có kết quả. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị H.

- Về con chung: Anh và chị H có hai con chung là Phan Hải A, sinh ngày 13/11/2003 và Phan Thị Bình N, sinh ngày 27/10/2007. Hiện con chung Phan Hải A đã trưởng thành, nhưng hiện đang học đại học nên mọi chi phí sinh hoạt, học phí đều do anh T vẫn tiếp tục nuôi, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi ly hôn, anh đề nghị giao con chung Phan Thị Bình N cho chị H nuôi vì công việc anh hay đi làm xa không có điều kiện, thời gian để chăm con. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, anh và chị H tự thỏa thuận, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Anh Phan Văn T không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Nguyễn Thị H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản của Tòa án gồm Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị H vắng mặt, không có lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.

* Quan điểm của bị đơn tại bản tự khai ngày 18/10/2023 thể hiện: Xác nhận về thời gian kết hôn giống như anh T trình bày. Về nguyên nhân mâu thuẫn theo chị do trước khi lấy anh T chị đã có chồng và có 01 con riêng. Sau khi về chung sống thì anh T luôn xa lánh, phân biệt đối xử ích kỷ, nhỏ nhen không quan tâm cho con riêng của chị H. Hơn nữa, anh T bắt chị phải cho con chị về với ông, bà cháu. Mỗi lần chị H muốn lo lắng, bù đắp gì cho con thì anh T đều không hưởng ứng và tỏ thái độ khó chịu, dẫn đến lần vợ chồng cãi nhau. Đấy cũng là nguyên nhân để chị và anh T ly hôn.

- Về con chung: Chị và anh T có hai con chung là Phan Hải A, sinh ngày 13/11/2003 và Phan Thị Bình N, sinh ngày 27/10/2007.

- Về tài sản chung: Chị H trình bày đề nghị anh T lấy lại cho chị H giấy tờ nhà cửa (Bìa đỏ) là nhà đất riêng của chị khi anh T đi làm không có tiền vốn nên chị đã thế chấp tài sản riêng của chị để vay Ngân hàng để anh T vay vốn đóng lệ phí cho công ty của anh T.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn anh Phan Văn T vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Tòa án đã công bố bản tự khai của anh T vẫn giữ quan điểm như đơn khởi kiện; bị đơn chị Nguyễn Thị H vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Tòa án đã công bố lời khai chị H.

* Tòa án đã thu thập chứng cứ tại địa phương cũng như gia đình anh T, chị H và thể hiện: Về nguyên nhân mâu thuẫn do hai bên bất đồng quan điểm, lối sống. Hiện tại anh T và chị H đã sống ly thân không còn quan hệ về tình cảm cũng như kinh tế. Nay anh T có đơn xin ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết giải quyết theo quy định của pháp luật; về con chung: Anh T và chị H có hai con chung là Phan Hải A, sinh ngày 13/11/2003 và Phan Thị Bình N, sinh ngày 27/10/2007. Địa phương, gia đình anh T đề nghị Tòa án căn cứ vào tình hình thực tế để giải quyết theo quy định của pháp luật; về tài sản chung: Địa phương, cũng như gia đình không có ý kiến gì.

* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm:

  • - Về tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết từ giai đoạn thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật, bị đơn không tuân thủ đúng quy định của pháp luật.
  • - Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu do đương sự cung cấp và chứng cứ do Tòa án thu thập trên cơ sở tranh tụng tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 2 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 và các điều 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị định số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phan Văn T được ly hôn chị Nguyễn Thị H; về việc nuôi con: Anh Phan Văn T và chị Nguyễn Thị H có 02 con chung. Hiện con chung Phan Hải A hiện thành niên nên không xem xét giải quyết; giao con Phan Thị Bình N, sinh ngày 27/10/2007 cho chị Nguyễn Thị H nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con anh Phan Văn T và chị Nguyễn Thị H tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết; về án phí: Anh Phan Văn T phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

  • - Về tố tụng dân sự:
  • + Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
  • [1] Đây là quan hệ pháp luật về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn chị Nguyễn Thị H cư trú tại địa bàn quận H nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • + Về sự vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn:
  • [2] Nguyên đơn anh Phan Văn T vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và bị đơn chị Nguyễn Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, không có căn cứ bất khả kháng hoặc trở ngại, nên Hội đồng xét xử xử vắng mặt anh T, chị H theo quy định điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung:
  • [3] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa anh Phan Văn T và chị Nguyễn Thị H được xác lập từ ngày 04 tháng 8 năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.
  • [4] Quá trình chung sống anh Phan Văn T và chị Nguyễn Thị H có thời gian đầu vợ chồng chúng sống bình thường. Đến khoảng đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do hai bên bất đồng quan điểm, lối sống cũng như mâu thuẫn xuất phát từ việc con chung, con riêng, từ đó dẫn đến vợ chồng không có tiếng nói chung và đã sống ly thân không còn quan hệ về tình cảm, kinh tế. Mâu thuẫn đã được hai bên gia đình phân tích hòa giải nhưng không có kết quả. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập nhiều lần để hòa giải, chị H đều là người trực tiếp nhận văn bản, tuy nhiên chị H đều không đến. Cho thấy chị H không mong muốn để vợ chồng cải thiện tình cảm. Xét mâu thuẫn giữa anh Phan Văn T và chị Nguyễn Thị H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Phan Văn T.
  • [5] Về việc nuôi con: Anh Phan Văn T và chị Nguyễn Thị H có hai con chung là Phan Hải A, sinh ngày 13/11/2003 và Phan Thị Bình N, sinh ngày 27/10/2007. Hiện con Phan Hải A đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; anh T đề nghị Toà án do anh công việc làm ăn xa không có điều kiện chăm sóc con nên anh đồng ý giao con Phan Thị Bình N cho chị H nuôi dưỡng. Quá trình giải quyết chị H không có ý kiến gì về việc nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét: Anh Phan Văn T và chị Nguyễn Thị H có 02 con chung, hiện con Phan Hải A đã thành niên nên, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết; cháu Phan Thị Bình N là con gái hiện đang tuổi thành niên, cần có sự chăm sóc giáo dục về giới tính, và cháu có đơn nguyện vọng muốn ở cùng mẹ. Hơn nữa, chị H đã ký xác nhận đơn nguyện vọng của cháu. Xét chị H có nhiều thời gian để chăm sóc giáo dục con tốt hơn. Mặt khác, để đảm bảo sự ổn định về mặt tâm lý, sự phát triển về mọi mặt cho con nên: Giao con Phan Thị Bình N cho chị Nguyễn Thị H nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con anh T và chị H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • [5] Về việc chia tài sản: Anh Phan Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • [6] Đối với quan điểm của chị Nguyễn Thị H có ý kiến đề nghị anh T trả lại cho chị H giấy tờ nhà cửa (Bìa đỏ) là tài sản riêng của chị mà chị đã thế chấp ngân hàng để anh T vay vốn đóng lệ phí cho công ty của anh T. Tòa án đã ra các Thông báo về việc giao nộp tài liệu, chứng cứ số 408/TB-TA ngày 25/10/2023; Thông báo số 447/TB-TA ngày 09/11/2023 đối với yêu cầu của chị H. Tuy nhiên hết thời hạn, chị H không giao nộp tài liệu chứng cứ đối với yêu cầu của mình để Tòa án xem xét giải quyết vụ án. Nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Trong trường hợp chị H nếu có yêu cầu đòi lại các giấy tờ tài sản (bìa đỏ) là tài sản riêng mà chị H đã thế chấp vay tiền cho anh T, sẽ giải quyết bằng vụ án dân sự khác.
  • - Về án phí:
  • [7] Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, anh Phan Văn T phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  • - Về quyền kháng cáo:
  • [8] Anh Phan Văn T và chị Nguyễn Thị H được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 207 ; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 2 Điều 228 và Điều 238; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các điều 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Phan Văn T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Phan Văn T được ly hôn chị Nguyễn Thị H.
  2. Về việc nuôi con: Anh Phan Văn T và chị Nguyễn Thị H có hai con chung là Phan Hải A, sinh ngày 13/11/2003 và Phan Thị Bình N, sinh ngày 27/10/2007. Hiện con Phan Hải A đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết; giao con Phan Thị Bình N cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con anh Phan Văn T và chị Nguyễn Thị H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  3. Về việc chia tài sản: Anh Phan Văn T và chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Anh Phan Văn T phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004989 ngày 03 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Anh Phan Văn T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo đối với bản án:

    Anh Phan Văn T và chị Nguyễn Thị H vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

  6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Hải An;
  • - Chi cục THADS quận Hải An;
  • - UBND phường Đằng Lâm, quận Hải An, thành phố Hải Phòng (GCNKH số 81; quyển 01/2006 ngày 04/8/2006);
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Bích Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2023/HNGĐ-ST ngày 27/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 60/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh Phan Văn T và chị Nguyễn Thị H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger