Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẠI TỪ

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 60/2024/HS-ST

Ngày 27/5/2024

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kao Hoàng

Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà: Đặng Thị Sinh

2. Ông: Trần Quang Huyền

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Chu Thanh Thủy - Kiểm sát viên

Trong ngày 27 tháng 05 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đã thụ lý số: 58/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 05 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55 /2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 05 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Lê Văn C, sinh ngày 24 tháng 05 năm 2001.

    NĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm G, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

    Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12.

    Con ông: Lê Văn C1, sinh năm 1969; Con bà: Ngô Thị V, sinh năm 1973.

    Vợ, con: Chưa có; Gia đình có 02 anh, chị em bị cáo là con thứ 02 trong gia đình;

    Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/12/2023. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Đ (Có mặt tại phiên tòa).

  2. Họ và tên: Nguyễn Quốc L, sinh ngày 22 tháng 09 năm 2001.

    NĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm G, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

    Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 10/12.

    Con ông: Không xác định; Con bà: Nguyễn Thị T, sinh năm 1967

    Vợ, con: Chưa có; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình.

    Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/12/2023. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Đ (Có mặt tại phiên tòa).

*. Người làm chứng:

Cháu: Nguyễn Văn T1, sinh ngày: 05/3/2007 (Vắng mặt)

Bà: Nguyễn Thị X, sinh năm: 1977 Là người đại diện cho cháu Nguyễn Văn T1 (Vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Xóm G, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

*. Người chứng kiến:

Ông: Đặng Thái S, sinh năm: 1973 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Xóm L, xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 12/12/2023, Công an xã K nhận được phản ánh của quần chúng nhân dân về việc tại nhà ở của Nguyễn Quốc L (sinh năm 2001, trú tại xóm G, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên) có một số đối tượng thường xuyên tụ tập có dấu hiệu sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 13/12/2023, Công an xã K, huyện Đ đã đến nhà Nguyễn Quốc L để xác minh, phát hiện tại buồng ngủ nhà L có 01 túi nilon có kích thước (02 x 02) cm, bên trong có bám dính chất rắn tinh thể màu hồng (Niêm phong vào phong bì kí hiệu A); 01 đoạn ống hút bằng nhựa màu xanh, 01 đoạn ống hút bằng nhựa màu vàng (Niêm phong vào phong bì kí hiệu B); 01 vỏ chai nước không có nắp (Niêm phong vào phong bì kí hiệu C) và 01 mảnh giấy bạc đã bị vò nhàu không rõ hình (Niêm phong vào phong bì kí hiệu D). Công an xã K, huyện Đ đã lập biên bản sự việc, thu giữ vật chứng,mời các đối tượng liên quan gồm: Nguyễn Văn T1 (sinh ngày 05/3/2007, trú tại xóm G, xã K, huyện Đ) và Lê Văn C (sinh năm 2001, trú tại xóm G, xã K, huyện Đ) để làm rõ nội dung vụ việc. Quá trình làm việc, Lê Văn C khai nhận hành vi sử dụng ma túy đá và hồng phiến cùng với Nguyễn Quốc LNguyễn Văn T1 tại nhà của L vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 12/12/2023.

Tiến hành xét nghiệm ma túy đối với Nguyễn Văn T1Lê Văn C kết quả dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine. Ngày 13/12/2023,tiến hành xét nghiệm ma túy đối với Nguyễn Quốc L kết quả âm tính với chất ma túy.

Nhận thấy vụ việc có dấu hiệu tội phạm, Công an xã K, huyện Đ đã chuyển toàn bộ hồ sơ, vật chứng và đối tượng đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ để giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 13/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã ra lệnh khám xét khẩn cấp về người, chỗ ở, địa điểm, phương tiện đối với Lê Văn CNguyễn Quốc L. Kết quả không thu giữ gì.

Ngày 14/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã lấy mẫu nước tiểu của Nguyễn Quốc L, niêm phong vào bì kí hiệu T2 Ra quyết định trưng cầu giám định đối với 01 túi nilon có kích thước (02 x 02 cm), bên trong có bám dính chất rắn tinh thể màu hồng (Niêm phong trong phong bì kí hiệu A) và phong bì niêm phong kí hiệu T.

Tại bản Kết luận giám định số: 9301/KL-KTHS, ngày 22/12/2023 của V1 Bộ C3 kết luận: Mẫu chất màu hồng bám dính trong túi nilong được niêm phong kí hiệu A gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine.

Tại bản Kết luận giám định độc chất số: 65/KLGĐĐC-TTPY, ngày 25/12/2023 của Trung tâm pháp y Sở Y kết luận: Trong mẫu nước tiểu trong bì niêm phong ký hiệu T có tìm thấy M và M1.

Tại cơ quan điều tra Lê Văn C, Nguyễn Quốc L khai nhận: Khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 12/12/2023, C đang ngồi chơi ở nhà L thì C nảy sinh ý định sử dụng ma túy. C gọi 02 cuộc điện thoại cho T3 (thường gọi là Thuần X1), nhà ở gần khu di tích lịch sử 27/7 thuộc thị trấn H, huyện Đ nhưng T3 không nghe máy nên C điều khiển xe mô tô từ nhà L tới nhà T3 để hỏi mua ma túy đá và hồng phiến. Đến nơi, C đi vào nhà gặp T3 hỏi mua ma túy, T3 đồng ý, C mua được 02 viên ma túy hồng phiến và 300.000 đồng tiền ma túy đá đựng trong 01 túi nilong với tổng số tiền là 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, C cất giấu vào túi áo ngực rồi đi về nhà L để ăn cơm, uống rượu. Khi tới nhà L, C gặp Nguyễn Văn T1, L và 02 người C không biết tên. Cả nhóm ăn cơm xong thì hai người bạn của L lên giường ngủ, lúc này C rủ T1L sử dụng ma túy, LT1 đồng ý. C đi vào trong buồng nhà L, rồi chế tạo bộ dụng cụ sử dụng ma tuý bằng cách lấy 01 vỏ chai nước rồi đục 02 lỗ nhỏ trên nắp chai để luồn hai đoạn ống hút vào, C lấy một mảnh giấy bạc và chế thành “máng” để sử dụng ma tuý. Sau đó, C gọi T1, L vào buồng và đốt ma tuý cho L, T1C2 nhau sử dụng. Sau khi sử dụng ma tuý xong, L lên giường ngủ, còn CT1 đi ra quán internet chơi điện tử, sau đó được Công an xã K, huyện Đ triệu tập CT1 tới làm việc, CT1 đã khai nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của L, Công an xã K, huyện Đ đã tiến hành kiểm tra tại nhà L, thu giữ vật chứng như nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 61/CT-VKSĐT ngày 08/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Lê Văn C về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; Bị cáo Nguyễn Quốc L bị truy tố về tội: “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Bị cáo Nguyễn Quốc L phạm tội: “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 khoản 2 điều 51 Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo Lê Văn C từ 07 năm 06 tháng đến 8 năm tù.

Áp dụng: Điểm d khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1 Điều 51 Điều 38 của BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc L từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.

Miễn phạt bổ sung đối với các bị cáo do bị cáo còn trẻ, chưa có công ăn việc làm ổn định; xử lý vật chứng theo quy định;

Bị cáo C phải chịu án phí hình sự nộp ngân sách nhà nước. Miễn án phí cho bị cáo L do bị cáo thuộc diện hộ nghèo.

Trong phần tranh luận, các bị cáo không có ý kiến tranh luận. Các bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người, đúng tội, không oan, các bị cáo ăn lăn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ; Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

[2]. Xét hành vi phạm tội của các bị cáo thấy: Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận: Hồi 12 giờ 10 phút ngày 12/12/2023 tại nhà của Nguyễn Quốc L, thuộc xóm G, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, L đã có hành vi cho Lê Văn C chế tạo dụng cụ để sử dụng ma tuý loại Methamphetamine cho L, CT1 cùng sử dụng ma túy tại nhà L (thời điểm này T1 được 16 tuổi 9 tháng 07 ngày). Ngày 13/12/2023, Công an xã K, huyện Đ đã tiến hành kiểm tra, thu giữ vật chứng có liên quan đến vụ án.

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, như: biên bản sự việc, biên bản kiểm tra xác định nơi xảy ra vụ việc, sơ đồ hiện trường; lời khai của những người liên quan, người làm chứng; người chứng kiến; vật chứng thu giữ; kết luận giám định ... Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lê Văn C đã đủ yếu tố cầu thành tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; Bị cáo Nguyễn Quốc L đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 2 Điều 256 của Bộ luật hình sự.

Nội dung điều luật quy định như sau:

Điều 255 Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý:

“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Người nào thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

...b. Đối với 02 người trở lên;

c. Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi.”

Điều 256 Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý:

“1. Người nào cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 255 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Người nào thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

...d. Đối với 02 người trở lên.”

[3]. Xét tính chất hành vi vụ án:

Xét về tính chất hành vi của các bị cáo là rất nghiêm trọng, các bị cáo biết rõ tác hại của ma tuý nhưng bị cáo vẫn cố ý sử dụng ma tuý trái phép nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Hành vi nguy hiểm cho xã hội đó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc dược của Nhà nước nói chung và chất ma túy nói riêng. Hành vi đó không những trực tiếp làm gia tăng tệ nạn xã hội trên địa bàn dân cư mà còn làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người, ảnh hưởng và suy hao kinh tế, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác nên cần xử lý nghiêm minh mới đảm bảo tính răn đe của pháp luật và mang tính phòng ngừa chung.

[4]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Các bị cáo C, L được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: "Người phạm tội thành khẩn khai báo" quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo C có ông nội được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên bị cáo được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Về tình tiết tăng nặng TNHS: các bị cáo C, L không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5]. Về nhân thân: Cả hai bị cáo chưa có tiền án tiền sự, bản thân tuổi đời các bị cáo còn rất trẻ, nhưng bản thân các bị cáo vẫn đua đòi nghe bạn bè rủ rê sử dụng ma túy nên các bị cáo đã lao vào con đường phạm tội. Vì vậy cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, xử phạt bị cáo mức phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội để bị cáo cải tạo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.

[6]. Về vật chứng của vụ án:

  • Tịch thu tiêu hủy: 04 bì niêm phong có ký hiệu B, C, D, 9301KL-KTHS. Xét thấy đây là vật chứng liên quan đến vụ án không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.
  • Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 bì niêm phong kí hiệu F bên trong là 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6S, màu hồng, đã quan sử dụng số IMEI: 353310078246978, bên trong có lắp SIM: 0961029348 đây là điện thoại của C dùng vào việc phạm tội lên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

[7]. Về hình phạt: Căn cứ hành vi, tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy, bị cáo Lê Văn CNguyễn Quốc L là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do ăn chơi, đua đòi nên đã cố ý phạm tội với tính chất rất nghiêm trọng. Hội đồng xét xử cần xử phạt các bị cáo mức án 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù và buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo và giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời mang tính phòng ngừa chung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, không có tài sản cá nhân gì, nên miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[8]. Về án phí và quyền kháng cáo: Buộc bị cáo C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước. Tuy nhiên bị cáo L thuộc diện hộ nghèo nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo L là phù hợp.

[9]. Về nguồn gốc số ma túy C khai mua của Đinh Văn T4 nhà ở khu vực D thuộc TDP Bàn Cờ 2, TT H, huyện Đ. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã ghi lời khai, tiến hành đối chất nhưng T4 không thừa nhận việc bán ma túy cho C ngày 12/12/2023, ngoài lời khai của C thì không còn tài liệu nào khác chứng minh C mua ma túy của Thuần nên chưa đủ căn cứ xác minh xử lý đối với T4. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra, nếu đủ căn cứ xử lý theo quy định.

Đối với Nguyễn Văn T1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với Lê Văn C, Nguyễn Văn L1 vào ngày 12/12/2023 tại nhà L1, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã thông báo cho Công an xã K, huyện Đ để quản lý theo quy định.

Đối với bà Nguyễn Thị T, là mẹ của L1, cùng là chủ nhà, Ngày 12/12/2023, bà T không có ở nhà, không biết việc C, T1, L1 sử dụng ma túy tại nhà của bà T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ không xem xét xử lý theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo Nguyễn Quốc L phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.

1. Áp dụng: Điểm b, c khoản 2 Điều 255 BLHS, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Điều 38 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án.

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn C 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 14/12/2023.

2. Áp dụng: Điểm d khoản 2 Điều 256 BLHS, điểm s khoản 1 Điều 51 Điều 38 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc L 07 (bẩy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 22/12/2023.

3. Về phạt bổ sung: Miễn phạt bổ sung cho bị cáo CL.

4. Về Vật chứng:

  • Tịch thu tiêu hủy: 04 bì niêm phong có ký hiệu B, C, D, 9301KL-KTHS.
  • Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 bì niêm phong kí hiệu F bên trong là 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6S, màu hồng, đã quan sử dụng số IMEI: 353310078246978, bên trong có lắp SIM: 0961029348 đây là điện thoại của C dùng vào việc phạm tội.

(Đặc điểm,tình trạng vật chứng như mô tả trong quyết định chuyển vật chứng số 56/QĐ - VKSĐT ngày 08/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên và các biên bản giao nhận vật chứng kèm theo).

5. Về án phí: Buộc bị cáo C phải chịu 200.000 đồng án phí HSST nộp vào sung quỹ nhà nước. Miễn án phí cho bị cáo L do bị cáo thuộc diện hộ nghèo.

Án xử công khai sơ thẩm báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKS tỉnh Thái Nguyên;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Công an huyện Đại Từ;
  • - VKS huyện Đại Từ;
  • - Chi cục THADS huyện Đại Từ;
  • - THAHS;
  • - Bị cáo; Người liên quan;
  • - Thông báo cho UBND xã;
  • - Lưu hồ sơ.

THAY MẶT. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Kao Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 60/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng ma túy và chứa chấp sử dụng ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger