Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NGHI SƠN

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 60/2024/HNGĐ - ST

Ngày 26 - 8- 2024

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Sơn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thế Hải

Ông Nguyễn Văn Dương

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Viết Chiến - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Lâm Ngọc Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 89/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị P, sinh năm 1998

Nơi cư trú: Thôn D, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

2. Bị đơn: Anh Trương Anh T, sinh năm 1994

Nơi cư trú: TDP L, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

Chị P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh T vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Thị P trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa vào năm 2018. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2020 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai bên không hợp nhau, bất đồng quan điểm, không thể hòa hợp được và không có hạnh phúc, anh T ham chơi không quan tâm đến vợ con, từ tháng 5 năm 2023 cho đến nay vợ chồng sống ly thân. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng dành cho nhau không còn, mâu thuẫn gia đình đã trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn anh T.

Về con chung: Chị và anh T có 01 con chung là Trương Lê Linh A, sinh ngày 17/7/2019, kể từ khi vợ chồng sống ly thân cháu A ở với chị. Khi ly hôn chị P yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Trương Anh T: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho anh T, do anh T không có mặt tại gia đình, nên Tòa án tống đạt thông qua bố đẻ anh T là ông Trương Quang C, ông C nhận và cam đoan sẽ thông báo và giao lại các văn bản tố tụng cho anh T.

Tòa án tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị P và anh T, theo biên bản xác minh ngày 16/8/2024 xác định: Quá trình chung sống vợ chồng chị P và anh T không hạnh phúc hiện nay vợ chồng sống ly thân.

Tòa án tiến hành xác minh tại gia đình anh T, bố anh T là ông Trương Quang C cho biết: Sau khi kết hôn chị P và anh T chung sống cùng gia đình ông, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng giữa chị P và anh T ông không nắm rõ, hiện tại vợ chồng đang sống ly thân. Khi chị P làm đơn ly hôn, các văn bản tố tụng của Tòa án giao cho anh T, ông nhận thay và có báo với anh T, anh T có nói lại là việc ly hôn là quyền của cô P; về con chung chị P và anh T có 01 con chung, kể từ khi sống ly thân chị P đưa con về nhà ngoại ở, anh T có nói Tòa án giao con cho ai thì người đó có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng; Về tài sản chung: Chị P và anh T không có tài sản gì.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

  • Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa. Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị P. Về hôn nhân giải quyết cho chị P được ly hôn anh T; Về con chung: giao cháu Trương Lê Linh A, sinh ngày 17/7/2019 cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng, chị P không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, nên không xem xét; Về tài sản chung: chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét; Về án phí: chị P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị P yêu cầu Tòa án giải quyết về ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn giữa chị và anh T; anh T cư trú tại phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; chị P đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Chị P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị P và anh T theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu ly hôn và tình trạng hôn nhân giữa chị P và anh T: Quan hệ hôn nhân giữa chị P và anh T trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, mâu thuẫn trầm trọng nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2023 đến nay. Chị P xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn anh T. Anh T đã biết việc chị P yêu cầu ly hôn, nhưng không đến Tòa án để giải quyết, không có ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị P, thể hiện anh T không tha thiết níu kéo hạnh phúc gia đình với chị P.

Tòa án tiến hành xác minh mâu thuẫn vợ chồng giữa chị P và anh T xác định trong cuộc sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn.

Căn cứ vào trình bày của chị P và kết quả xác minh có căn cứ để xác định, hôn nhân giữa chị P và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị P là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Chị P và anh T có 01 con chung là Trương Lê Linh A, sinh ngày 17/7/2019, kể từ khi vợ chồng sống ly thân cháu A ở với chị P tại nhà ngoại. Khi ly hôn chị P có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu A, chị P không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.

HĐXX xét thấy chị P có đủ điều kiện để trực tiếp nuôi con, cháu A còn nhỏ cần sự chăm sóc của mẹ. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu của chị P giao cháu A cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu A. Về cấp dưỡng nuôi con chung chị P không yêu cầu giải quyết, nên HĐXX không xem xét.

[4] Về tài sản chung: Chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Chị P khởi kiện vụ án ly hôn, không thuộc trường hợp được miễn án phí, nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 2 Điều 227, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
    Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
    Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQ14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị P:
    • - Về hôn nhân: Chị Lê Thị P được ly hôn anh Trương Anh T.
    • - Về con chung: Giao cháu Trương Lê Linh A, sinh ngày 17/7/2019 cho chị Lê Thị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
    • Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
  3. Về án phí: Chị Lê Thị P phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007111 ngày 21/3/2024.
  4. Quyền kháng cáo: Chị P và anh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án, thoả thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND thị xã Nghi Sơn;
  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - Chi cục THADS thị xã Nghi Sơn;
  • - UBND phường Hải Bình, TX Nghi Sơn;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Phạm Ngọc Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2024/HNGĐ - ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 60/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị P ly hôn anh T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger