|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 60/2024/DS-ST Ngày: 26 - 7 - 2024 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Nghĩa.
Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Đinh Thị Hạnh.
- Bà Võ Thị Ngọc Mai.
- Thư ký phiên tòa: Ông Tô Văn Liên là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Tốt - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý: 174/2024/TLST-DS, ngày 26 tháng 4 năm 2024, về tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 183/2024/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 7 năm 2024, quyết định hoãn phiên toà số 133/2024/QĐST-DS ngày 16 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần L (Tên trước đây là ngân hàng Thương mại cổ phần B).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Hoài D, sinh năm 1986 và bà Trần Thị N, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Số B, đường T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hồ Nam T; Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Đức T1; Chức vụ: Giám đốc vùng Đ kiêm chi nhánh B1 (Văn bản uỷ quyền ngày 11/7/2023).
Người được ủy quyền lại: Ông Nguyễn Minh T2; Chức vụ: Giám đốc phòng G (Văn bản uỷ quyền ngày 18/3/2024).
Nơi làm việc: Số D, đường C, khu phố A, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Nơi cư trú: Số A, đường N, khu phố G, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa, vắng mặt người được uỷ quyền lại của nguyên đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt; vắng mặt bị đơn không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng, người được uỷ quyền lại của nguyên đơn là ông Nguyễn Minh T2 trình bày: Ngân hàng thương mại cổ phần B (Tên hiện nay là ngân hàng thương mại cổ phần L)- Chi nhánh B1 – Phòng G có ký 02 hợp đồng tín dụng với vợ chồng ông Nguyễn Hoài D, bà Trần Thị N và 01 hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế với ông Nguyễn Hoài D; cụ thể như sau:
- Hợp đồng hạn mức tín dụng số HĐTD34A2023227 ngày 13/9/2023 với hạn mức vay là 4.000.000.000 đồng, thời hạn hiệu lực của hợp đồng là 12 tháng, thời hạn vay của mỗi lần vay không quá 5 tháng, lãi suất vay điều chỉnh 3 tháng/lần, lãi quá hạn bằng 150% lãi suất vay, lãi chậm trả là 10%/năm. Khoảng vay đã giải ngân số tiền 4.000.000.000 đồng vào ngày 13/9/2023, lãi suất vay tại thời điểm giải ngân là 10,9%/năm. Đến nay, khoản vay đã quá hạn nhưng phía bị đơn vẫn chưa trả cho ngân hàng số tiền nợ vay 3.999.999.976 đồng, tiền lãi trong hạn 196.310.934 đồng, tiền lãi quá hạn 354.818.846 đồng và tiền lãi chậm trả 4.894.327 đồng.
- Hợp đồng hạn mức tín dụng số HĐTD34A2023230 ngày 14/9/2023 với hạn mức vay là 1.000.000.000 đồng, thời hạn hiệu lực của hợp đồng là 12 tháng, thời hạn vay của mỗi lần vay không quá 5 tháng, lãi suất vay điều chỉnh 3 tháng/lần, lãi quá hạn bằng 150% lãi suất vay, lãi chậm trả là 10%/năm. Khoảng vay đã giải ngân số tiền 1.000.000.000 đồng vào ngày 14/9/2023, lãi suất vay tại thời điểm giải ngân là 10,9%/năm. Đến nay, khoản vay đã quá hạn nhưng phía bị đơn vẫn chưa trả cho ngân hàng số tiền nợ vay 999.948.999 đồng, tiền lãi trong hạn 49.087.671 đồng, tiền lãi quá hạn 88.159.156 đồng và tiền lãi chậm trả 1.223.829 đồng.
- Giấy đề nghị phát hành thẻ kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế ngày 15/6/2022 với hạn mức tín dụng là 15.000.000 đồng. Đến nay, số tiền bị đơn còn phải thanh toán là 16.094.992 đồng.
Để đảm bảo trả nợ cho 03 khoản vay trên, ngân hàng và bị đơn đã ký kết 02 hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất; cụ thể:
- Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HĐTC34A202265 ngày 01/6/2022 để thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất của diện tích 2.608,9 m² thuộc thửa số 45 tờ bản đồ số 38 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU 243183 do UBND huyện T cấp ngày 13/12/2021 đứng tên chủ sử dụng là ông Lê Quang V (Cập nhật chuyển nhượng cho ông Nguyễn Hoài D và bà Trần Thị N ngày 13/5/2022). Việc thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đã được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 02/6/2022 tại chi nhánh văn phòng Đ1.
- Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HĐTC34A202271 ngày 08/6/2022 để thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất của diện tích 456 m² thuộc thửa số 87D tờ bản đồ số 4A theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 146598 do UBND huyện Đ cấp ngày 25/12/2013 đứng tên chủ sử dụng là ông Nguyễn Hoài D. Việc thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đã được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 08/6/2022 tại chi nhánh văn phòng Đ1.
Nguyên đơn yêu cầu vợ chồng ông D và bà N phải trả cho ngân hàng TMCP L số tiền nợ vay và nợ lãi như trên. Ông D và bà N còn phải tiếp tục chịu lãi, phí theo mức lãi suất, phí quy định tại các hợp đồng tín dụng từ ngày 26/6/2024 cho đến khi trả xong tiền nợ vay.
Trường hợp vợ chồng ông D và bà N không tự nguyện trả nợ thì ngân hàng đề nghị được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý các tài sản đang thế chấp để thu hồi nợ.
Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ngân hàng TMCP L đã chi tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 2.000.000 đồng. Ngân hàng yêu cầu ông Nguyễn Hoài D và bà Trần Thị N phải trả lại cho ngân hàng số tiền 2.000.000 đồng.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 12/6/2024, bị đơn bà Trần Thị N trình bày: Đối với số tiền ngân hàng TMCP B khởi kiện là đúng, vợ chồng bà có vay tiền của ngân hàng TMCP B. Để đảm bảo cho các khoản vay thì vợ chồng bà đã thế chấp 02 thửa đất, một thửa ở huyện T và một thửa ở huyện Đ. Các văn bản tố tụng do Toà án giao cho chồng bà là ông Nguyễn Hoài D do bà nhận thay thì bà đã thông báo lại cho ông D, nhưng do ông D đi làm xa nên không về kịp. Tuy nhiên, sau khi lấy lời khai của bà thì bà không ký vào biên bản lấy lời khai.
* Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 12/6/2024 đối với diện tích 2.608,9 m² thuộc thửa số 45 tờ bản đồ số 38, thể hiện:
- Tứ cận thửa đất có trụ bê tông làm hàng rào, có kéo dây kẽm gai xung quanh thửa đất.
- Trên thửa đất có các cây tràm con, do trước đây đã trồng tràm cắt đi, hạt rơi xuống mọc lại tự nhiên, không phải tràm do con người trồng. Ngoài ra, trên đất có một số cây khác tự mọc, còn nhỏ.
* Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 12/6/2024 đối với diện tích 456 m² thuộc thửa số 87D tờ bản đồ số 4A, thể hiện:
- Trên thửa đất có 01 căn nhà cấp 4, tường xây gạch, tô trát, có sơn màu, nền lót gạch men, mái lợp tôn, la phong tôn lạnh, nhà xây dựng năm 2012. Nhà hiện nay do bị đơn quản lý và sử dụng. Ranh giới với các bất động sản liền kề rõ ràng.
- 01 căn chòi, cột xi măng, khung sắt, mái lợp tôn, nền lót gạch bát tràng;
- 01 ao cá cảnh và cây xanh.
- Trên thửa đất có trồng 01 cây bằng lăng và 01 cây dừa.
Tòa án đã tiến hành hòa giải để các đương sự tự thỏa thuận với nhau về các vấn đề có tranh chấp trong vụ án nhưng bị đơn không tham gia nên không hòa giải được.
* Ý kiến của kiểm sát viên về việc tuân thủ pháp luật và phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật. Riêng bị đơn không chấp hành đúng pháp luật.
Về nội dung vụ án: Cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Nguyễn Hoài D và bà Trần Thị N phải trả cho ngân hàng TMCP L số tiền 5.710.538.730 đồng. Ông D và bà N còn phải tiếp tục chịu lãi theo mức lãi suất quy định tại các hợp đồng tín dụng từ ngày 27/7/2024 cho đến khi trả xong tiền nợ vay. Trường hợp vợ chồng ông D và bà N không tự nguyện trả nợ thì ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý các tài sản đang thế chấp để thu hồi nợ. Buộc vợ chồng ông D và bà N phải trả lại cho ngân hàng TMCP L 2.000.000 đồng tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, quá trình giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết là tranh chấp hợp đồng vay tài sản, quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự, khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền: Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh.
Về sự có mặt của các đương sự: Tại phiên toà, vắng mặt người được uỷ quyền lại của nguyên đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Riêng bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt và không có tài liệu, chứng cứ thể hiện sự vắng mặt của bị đơn là do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn.
[2] Nội dung vụ án:
[2.1] Về hợp đồng vay tài sản:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do phía nguyên đơn cung cấp; phía bị đơn bà Trần Thị N cũng thừa nhận có vay tiền và thế chấp tài sản cho nguyên đơn. Căn cứ vào khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, đủ cơ sở để kết luận: Ngân hàng thương mại cổ phần B (Tên hiện nay là ngân hàng thương mại cổ phần L)- Chi nhánh B1 – Phòng G có ký 02 hợp đồng tín dụng với vợ chồng ông Nguyễn Hoài D, bà Trần Thị N và 01 hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế với ông Nguyễn Hoài D; cụ thể như sau:
- Hợp đồng hạn mức tín dụng số HĐTD34A2023227 ngày 13/9/2023 với hạn mức vay là 4.000.000.000 đồng, thời hạn hiệu lực của hợp đồng là 12 tháng, thời hạn vay của mỗi lần vay không quá 5 tháng, lãi suất vay điều chỉnh 3 tháng/lần, lãi quá hạn bằng 150% lãi suất vay, lãi chậm trả là 10%/năm. Khoảng vay đã giải ngân số tiền 4.000.000.000 đồng vào ngày 13/9/2023, lãi suất vay tại thời điểm giải ngân là 10,9%/năm. Đến nay, khoản vay đã quá hạn nhưng phía bị đơn vẫn chưa trả cho ngân hàng số tiền nợ vay 3.999.999.976 đồng, tiền lãi trong hạn 196.310.934 đồng, tiền lãi quá hạn 354.818.846 đồng và tiền lãi chậm trả 4.894.327 đồng.
- Hợp đồng hạn mức tín dụng số HĐTD34A2023230 ngày 14/9/2023 với hạn mức vay là 1.000.000.000 đồng, thời hạn hiệu lực của hợp đồng là 12 tháng, thời hạn vay của mỗi lần vay không quá 5 tháng, lãi suất vay điều chỉnh 3 tháng/lần, lãi quá hạn bằng 150% lãi suất vay, lãi chậm trả là 10%/năm. Khoảng vay đã giải ngân số tiền 1.000.000.000 đồng vào ngày 14/9/2023, lãi suất vay tại thời điểm giải ngân là 10,9%/năm. Đến nay, khoản vay đã quá hạn nhưng phía bị đơn vẫn chưa trả cho ngân hàng số tiền nợ vay 999.948.999 đồng, tiền lãi trong hạn 49.087.671 đồng, tiền lãi quá hạn 88.159.156 đồng và tiền lãi chậm trả 1.223.829 đồng.
- Giấy đề nghị phát hành thẻ kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế ngày 15/6/2022 với hạn mức tín dụng là 15.000.000 đồng. Đến nay, số tiền bị đơn còn phải thành toán là 16.094.992 đồng.
Để đảm bảo trả nợ cho 03 khoản vay trên, ngân hàng và bị đơn đã ký kết 02 hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất; cụ thể:
- Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HĐTC34A202265 ngày 01/6/2022 để thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất của diện tích 2.608,9 m² thuộc thửa số 45 tờ bản đồ số 38 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU 243183 do UBND huyện T cấp ngày 13/12/2021 đứng tên chủ sử dụng là ông Lê Quang V (Cập nhật chuyển nhượng cho ông Nguyễn Hoài D và bà Trần Thị N ngày 13/5/2022). Việc thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đã được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 02/6/2022 tại chi nhánh văn phòng Đ1.
- Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HĐTC34A202271 ngày 08/6/2022 để thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất của diện tích 456 m² thuộc thửa số 87D tờ bản đồ số 4A theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 146598 do UBND huyện Đ cấp ngày 25/12/2013 đứng tên chủ sử dụng là ông Nguyễn Hoài D. Việc thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đã được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 08/6/2022 tại chi nhánh văn phòng Đ1.
[2.2] Về nghĩa vụ trả nợ của bên vay:
Đây là hợp đồng vay tài sản do các bên tự nguyện ký kết, khi ký kết các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Căn cứ vào Điều 466 Bộ luật Dân sự thì bên vay phải trả cho bên cho vay tiền nợ vay và tiền lãi phát sinh.
Khoản 1, 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng, quy định:
“1. Tổ chức tín dụng được quyền ấn định và phải niêm yết công khai mức lãi suất huy động vốn, mức phí cung ứng dịch vụ trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng.
2. Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật.”
Lãi suất nguyên đơn yêu cầu phù hợp với lãi suất do các bên thoả thuận tại các hợp đồng tín dụng nên được chấp nhận.
Vì vậy, yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả số tiền nợ vay và nợ lãi như trên là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Ông D và bà N còn phải tiếp tục chịu lãi, phí theo mức lãi suất, phí quy định tại các hợp đồng tín dụng từ ngày 27/7/2024 cho đến khi trả xong tiền nợ vay.
[2.3] Về biện pháp bảo đảm: Việc thế chấp quyền sử dụng đất của các bên đã được công chứng, chứng thực tại văn phòng công chứng và đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên phát sinh hiệu lực.
Trường hợp vợ chồng ông D và bà N không tự nguyện trả hết nợ thì ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý các tài sản đang thế chấp là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền trên đất của diện tích 2.608,9 m² thuộc thửa số 45 tờ bản đồ số 38 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU 243183 do UBND huyện T cấp ngày 13/12/2021 đứng tên chủ sử dụng là ông Lê Quang V (Cập nhật chuyển nhượng cho ông Nguyễn Hoài D và bà Trần Thị N ngày 13/5/2022), và quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền trên đất của diện tích 456 m² thuộc thửa số 87D tờ bản đồ số 4A theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 146598 do UBND huyện Đ cấp ngày 25/12/2013 đứng tên chủ sử dụng là ông Nguyễn Hoài D để thu hồi nợ.
[3] Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn đã nộp 2.000.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Do yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên cần buộc bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 2.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
[4] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí DSST.
[5] Ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp với nội dung vụ án.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, Điều 147, 158, 158, khoản 2 Điều 227, Điều 228, 235, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 357, 463, 466 và 468 Bộ luật Dân sự; khoản 1, 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
1.1/ Buộc ông Nguyễn Hoài D và bà Trần Thị N phải trả cho ngân hàng TMCP L số tiền 5.710.538.730 đồng (Năm tỷ bảy trăm mười triệu năm trăm ba mươi tám nghìn bảy trăm ba mươi đồng). Cụ thể như sau:
- + Đối với Hợp đồng hạn mức tín dụng số HĐTD34A2023227 ngày 13/9/2023: Ông Nguyễn Hoài D và bà Trần Thị N phải trả cho ngân hàng TMCP L tiền nợ vay 3.999.999.976 đồng, tiền lãi trong hạn 196.310.934 đồng, tiền lãi quá hạn 354.818.846 đồng và tiền lãi chậm trả 4.894.327 đồng.
- + Đối với Hợp đồng hạn mức tín dụng số HĐTD34A2023230 ngày 14/9/2023: Ông Nguyễn Hoài D và bà Trần Thị N phải trả cho ngân hàng TMCP L tiền nợ vay 999.948.999 đồng, tiền lãi trong hạn 49.087.671 đồng, tiền lãi quá hạn 88.159.156 đồng và tiền lãi chậm trả 1.223.829 đồng.
- + Đối với Giấy đề nghị phát hành thẻ kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế ngày 15/6/2022: Ông Nguyễn Hoài D và bà Trần Thị N phải trả cho ngân hàng TMCP L số tiền 16.094.992 đồng.
Kể từ ngày 27/7/2024 cho đến khi thi hành án xong, ông Nguyễn Hoài D và bà Trần Thị N còn phải tiếp tục chịu lãi theo mức lãi suất được quy định trong hợp đồng hạn mức tín dụng số HĐTD34A2023227 ngày 13/9/2023.
Kể từ ngày 27/7/2024 cho đến khi thi hành án xong, ông Nguyễn Hoài D và bà Trần Thị N còn phải tiếp tục chịu lãi theo mức lãi suất được quy định trong hợp đồng hạn mức tín dụng số HĐTD34A2023230 ngày 14/9/2023.
Kể từ ngày 27/7/2024 cho đến khi thi hành án xong, ông Nguyễn Hoài D và bà Trần Thị N còn phải tiếp tục chịu lãi, phí theo mức lãi suất, phí được quy định trong giấy đề nghị phát hành thẻ kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế ngày 15/6/2022.
1.2/ Trường hợp ông Nguyễn Hoài D và bà Trần Thị N không tự nguyện trả hết nợ thì ngân hàng TMCP L có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản đang thế chấp là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền trên đất của diện tích 2.608,9 m² thuộc thửa số 45 tờ bản đồ số 38 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU 243183 do UBND huyện T cấp ngày 13/12/2021 đứng tên chủ sử dụng là ông Lê Quang V (Cập nhật chuyển nhượng cho ông Nguyễn Hoài D và bà Trần Thị N ngày 13/5/2022), và quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền trên đất của diện tích 456 m² thuộc thửa số 87D tờ bản đồ số 4A theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 146598 do UBND huyện Đ cấp ngày 25/12/2013 đứng tên chủ sử dụng là ông Nguyễn Hoài D để thu hồi nợ.
2/ Về chi phí tố tụng: Buộc ông Nguyễn Hoài D và bà Trần Thị N phải hoàn trả cho ngân hàng TMCP L 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3/ Về án phí DSST:
Ông Nguyễn Hoài D và bà Trần Thị N phải chịu 113.710.000 đồng (Một trăm mười ba triệu bảy trăm mười nghìn đồng) án phí DSST, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh.
Ngân hàng TMCP L không phải chịu án phí DSST, được hoàn trả 56.668.000 đồng (Năm mươi sáu triệu sáu trăm sáu mươi tám nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004440 ngày 26/4/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh.
4/ Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
5/ Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Ngọc Nghĩa |
Bản án số 60/2024/DS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 60/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP L "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" Nguyễn Hoài D
