|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 60/2024/DS-ST Ngày: 26-4-2024 V/v tranh chấp về hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Lan.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Văn Dũng;
- Bà Huỳnh Thị Lệ Quyên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Sương - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thế Đức - Kiểm sát viên
Ngày 26 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 278/2023/TLST-DS ngày 10 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2024/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 31/2024/QĐST-DS ngày 08/4/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1950.
Địa chỉ: B N, Phường A, Quận F, Tp .
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
Bà Nguyễn Thị Yến V, sinh năm 1999
Địa chỉ: E N, Phường H, Quận A, Tp .. (có mặt)
(Đại diện theo ủy quyền, giấy ủy quyền ngày 05/4/2023)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn K, sinh năm 1980.
Địa chỉ: 1 H, Phường B, Quận A, Tp . (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Kim C, sinh năm 1965.
Địa chỉ: 2 N, Phường A, Quận E, Tp ..
Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị Hải M, sinh năm 2001
Địa chỉ: C L, Phường A, Quận A, Tp . (có mặt).
(Đại diện theo ủy quyền, giấy ủy quyền ngày 14/8/2023)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong đơn khởi kiện ngày 14 tháng 7 năm 2023, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Yến V trình bày:
Ngày 06/11/2020, bà Nguyễn Thị Kim L và ông Nguyễn Tấn K có thỏa thuận với nhau về việc L cho ông K vay số tiền 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng) với lãi suất là 2%/tháng, thời hạn vay là 02 (hai) năm. Sau khi thống nhất về các điều khoản cho vay, bà L đã thực hiện việc chuyển giao tiền vay theo yêu cầu của ông K, lần lượt cụ thể như sau:
- Ngày 11/11/2020, bà L trực tiếp nộp tiền mặt vào tài khoản ngân hàng số 646704060040951, đứng tên ông Nguyễn Tấn K mở tại Ngân hàng TMCP Q với số tiền là 200.000.000 đồng.
- Ngày 14/01/2021, bà L trực tiếp nộp tiền mặt vào tài khoản Ngân hàng số 646704060040951, đứng tên ông Nguyễn Tấn K mở tại Ngân hàng TMCP Q với số tiền là 200.000.000 đồng.
- Sau đó, bà L đã đưa trực tiếp bằng tiền mặt cho ông Tấn K với số tiền là 100.000.000 đồng.
Thời gian đầu, ông K có thực hiện nghĩa vụ trả tiền lãi cho bà L. Tuy nhiên, sau đó ông K không trả tiền lãi như thỏa thuận. Hiện nay bà L cũng không nhớ chính xác số tiền và thời gian ông K trả lãi. Bà L đã nhiều lần yêu cầu ông K phải thanh toán tiền lãi đúng hạn theo thỏa thuận trong thời hạn vay nhưng ông K viện lý do gặp khó khăn về tài chính và xin gia hạn thời hạn thanh toán tiền gốc và lãi nhưng bà L không đồng ý và buộc ông K phải thanh toán tiền gốc và lãi đúng hạn theo thỏa thuận. Tuy nhiên, sau đó, bà L vẫn không nhận được bất cứ khoản tiền lãi và gốc nào từ ông K. Bà L đã nhiều lần liên hệ và trực tiếp đến nơi ông K cư trú để yêu cầu ông K thanh toán nhưng vẫn không lấy lại được số tiền gốc đã cho vay và tiền lãi.
Ngày 06/3/2023, sau nhiều lần bà L yêu cầu, ông K đã đồng ý viết văn bản xác nhận về việc ông đã cho vay số tiền 500.000.000 đồng của bà L. Tuy nhiên, trong giấy nợ ông K lại ghi: “Có nhận mượn và chuyển giùm cho bà Lê Thị Kim C số tiền là 500.000.000 đồng”. Trên thực tế bà L không quen biết và không cho bà C vay tiền. Do không thể yêu cầu ông K viết lại tờ giấy nợ khác nên mới giấy nợ có nội dung như vậy. Việc ông K có đưa tiền cho bà Kim C hay không và mục đích là gì bà L không chứng kiến và không biết.
Ngoài ra, khi viết giấy nợ, ông K đã tự viết thời hạn thanh toán từ tháng 5/2023 đến trong năm 2023. Do bà L không đồng ý thời hạn trả nợ ông K đưa ra nên mới lấy bút gạch ngang dòng chữ “từ tháng 5/2023 đến trong năm 2023” và yêu cầu ông K thanh toán tiền gốc và tiền lãi vay cho bà L ngay lập tức. Tuy nhiên, sau đó ông K vẫn không thanh toán nợ gốc và lãi cho bà L. Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu ông K phải trả cho bà L số tiền vay 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng.
Do lúc viết giấy vay nợ ông K không ghi lãi suất và bà L cũng không có chứng cứ chứng minh hai bên có thỏa thuận lãi suất nên bà L xin thay đổi yêu cầu, không yêu cầu ông K trả tiền lãi theo lãi suất thỏa thuận kể từ ngày 01/12/2022 mà yêu cầu ông K trả tiền lãi với lãi suất 10%/năm kể từ ngày 01/01/2024 (ngày chậm thanh toán) đến ngày xét xử vụ án.
- Bà Nguyễn Thị Hải M, đại diện người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Khoảng từ 12h00 đến 13h00 ngày 06/11/2020, do bà C là người giúp việc cho nhà ông K nên đã trực tiếp chứng kiến việc ông K ngỏ ý mong muốn được vay tiền của bà L với số tiền 500.000.000 đồng và cam kết sẽ trả lãi hàng tháng là 2%/tháng và trong vòng hai năm sẽ trả đầy đủ toàn bộ số tiền vay gốc cho bà Kim L. Bà L đồng ý với đề nghị của ông K về việc cho ông K vay tổng số tiền là 500.000.000 đồng, yêu cầu ông K phải trả tiền lãi đúng hạn và trong thời hạn 02 năm phải thanh toán tiền gốc cho bà L. Sau đó, việc giao nhận tiền giữa bà L và ông K bà không chứng kiến nên không biết rõ sự việc.
Đối với nội dung giấy viết tay ngày 06/3/2023 do ông Tấn K lập và cung cấp cho bà L, cụ thể: “Tôi tên Nguyễn Tấn K CCCD số [...] có nhận mượn và chuyển cho dùm bà Lê Thị Kim C, sinh năm 29/8/1965 số tiền là 500.000.000 VND (năm trăm triệu đồng)”. Bà C xác nhận không nhận số tiền 500.000.000 đồng hoặc bất cứ khoản tiền nào của ông K hoặc của ông K vay từ bà L như nội dung giấy viết tay ngày 06/3/2023.
- Bị đơn ông Nguyễn Tấn K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp chứng cứ và hoà giải cũng như các văn bản tố tụng khác nhưng ông K không nộp tài liệu, chứng cứ cũng như không có văn bản trình bày ý kiến liên quan đến việc giải quyết vụ án vẫn vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án tiến hành tố tụng và xét xử vụ án.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu quan điểm về việc tuân thủ pháp luật về tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử từ giai đoạn thụ lý đến khi nghị án là tuân thủ đúng quy định pháp luật. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định pháp luật về tố tụng, tuy nhiên bị đơn đã được Tòa án tống đạt các văn bản pháp luật nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình Tòa giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay là vi phạm quy định pháp luật về tố tụng.
Về nội dung: Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền nợ gốc 500.000.000 đồng và tiền lãi kể từ ngày 01/01/2024 đến ngày xét xử vụ án là 10%/năm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tục tố tụng: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định quan hệ tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị Kim Lệ L và ông Nguyễn Tấn K là “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản”. Bị đơn ông Nguyễn Tấn K có địa chỉ cư trú tại Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
Xét Giấy ủy quyền ngày 05/4/2023 được công chứng tại Văn phòng công chứng Nguyễn Công T là hợp lệ nên bà Nguyễn Thị Yến V có đủ tư cách đại diện bà Nguyễn Thị Kim L tham gia tố tụng tại Tòa án.
Xét Giấy ủy quyền ngày 14/8/2023 được công chứng tại Văn phòng công chứng Nguyễn Công T là hợp lệ nên bà Nguyễn Thị Hải M có đủ tư cách đại diện bà Lê Thị Kim C tham gia tố tụng tại Tòa án.
Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, bị đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông Nguyễn Tấn K.
[2]. Về yêu cầu của nguyên đơn:
Xét thấy, Giấy ghi nội dung vay tiền ngày 06/3/2023 do ông Nguyễn Tấn K ký tên là chứng cứ bà L nộp cho Tòa án để chứng minh cho yêu cầu của mình. Ông K cũng đã được tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án cũng như kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ. Tuy nhiên, ông K vắng mặt trong quá trình Tòa tiến hành tố tụng và không có văn bản phản đối chứng cứ do bà L đưa ra nên Hội đồng xét xử căn cứ vào chứng cứ mà bà L nộp cho Tòa án để xét xử vụ án.
- Đối với yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả tiền gốc: Căn cứ vào giấy vay tiền có cơ sở xác định ông Nguyễn Tấn K có vay của bà Nguyễn Thị Kim L tổng số tiền 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng.
Tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn”. Tại giấy xác nhận vay tiền, ông K có ghi nội dung: Có mượn và chuyển cho dùm bà Lê Thị Kim C, sinh 25/8/1965 số tiền 500.000.000 đồng. Nếu bà Kim C không trả tôi sẽ cố gắng hoàn trả lại cho dì Nguyễn Thị Kim L số tiền nêu trên trong thời gian sớm nhất từ tháng 5/2023 đến trong năm 2023.
Hội đồng xử xét thấy: Mặc dù ông K có ghi nội dung: Mượn và chuyển cho dùm bà Lê Thị Kim C 500.000.000 đồng, nhưng lại không chứng minh việc bà C mới là người vay tiền. Hơn nữa trong giấy vay nợ ông K cũng cam kết rằng: Trong trường hợp bà C không hoàn trả số tiền vay thì ông K sẽ đứng ra trả toàn bộ tiền vay cho bà L. Vì vậy, việc bà L yêu cầu ông K trả nợ là có căn cứ.
Mặc dù bà L không đồng ý thời hạn trả nợ ông K đưa ra nên mới lấy bút gạch ngang dòng chữ: “từ tháng 5/2023 đến trong năm 2023” nhưng lại không có xác nhận của ông K. Như vậy Hội đồng xét xử xác định thời hạn trả nợ cuối cùng là 31/12/2023. Trong khoảng thời gian từ ngày 06/3/2023 (ngày viết giấy nợ) đến nay, nguyên đơn đã gửi Thông báo về việc yêu cầu bị đơn trả nợ vào các ngày 05/7/2023 và ngày 14/7/2023 nhưng bị đơn cũng không thực hiện bất kỳ nghĩa vụ trả nợ nào là vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận. Vì vây, yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả số tiền gốc là 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Đối với yêu cầu của nguyên đơn về trả tiền lãi:
Nguyên đơn khai nhận hai bên có thỏa thuận miệng lãi suất 2%/tháng và đã nhận được một số tiền lãi trong thời gian đầu nhưng không có chứng cứ chứng minh về việc có thỏa thuận về lãi suất và có nhận tiền lãi. Ông K vắng mặt tại phiên tòa và không gửi tài liệu để xác nhận phần lãi suất. Tại giấy xác nhận nợ không ghi nội dung về tiền lãi và lãi suất. Vì vậy Hội đồng xét xử không có cơ sở để xác định hai bên có thỏa thuận về tiền lãi và lãi suất.
Do Hội đồng xác định thời hạn trả nợ cuối cùng là 31/12/2023 nên thời gian bị đơn chậm thực hiện nghĩa vụ được tính từ ngày 01/01/2024. Việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền lãi kể từ ngày 01/01/2024 đến ngày xét xử vụ án với lãi suất 10%/năm là phù hợp với quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Cụ thể được tính như sau: 500.000.000 đồng x (10%: 365 ngày) x 117 ngày = 16.027.397 (mười sáu triệu, không trăm hai mươi bảy nghìn, ba trăm chín mươi bảy) đồng.
[3]. Án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 khoản 3 Điều 228, khoản 2 Điều 244 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Điều Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- - Căn cứ Điều 5 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;
- - Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Buộc ông Nguyễn Tấn K có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Kim L tổng số tiền là 516.027.397 (năm trăm mười sáu triệu, không trăm hai mươi bảy nghìn, ba trăm chín mươi bảy) đồng. Trong đó nợ gốc là 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng và số tiền lãi là 16.027.397 (mười sáu triệu, không trăm hai mươi bảy ngàn, ba trăm chín mươi bảy) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Án phí dân sự sơ thẩm: 24.641.096 (hai mươi bốn triệu, sáu trăm bốn mươi mốt nghìn, không trăm chín mươi sáu) đồng ông Nguyễn Tấn K chịu.
Bà Nguyễn Thị Kim L được miễn án phí theo quy định.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bà Nguyễn Thị Kim L, bà Lê Thị Kim C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Ông Nguyễn Tấn K có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Lan |
Bản án số 60/2024/DS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 60/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp về hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
