|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO TỈNH VĨNH PHÚC Bản án số: 60/2024/HSST Ngày 25 - 7 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh
Các hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Bích Hằng và ông Nguyễn Thành Đô.
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Ánh Tuyết - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 52/2024/TLST - HS ngày 05 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2021 đối với bị cáo:
- Nguyễn Bảo T; Sinh ngày 14/7/1980; Nơi cư trú: Thôn H, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Đức T1 (Đã chết) và bà: Vũ Thị K (đã chết); Vợ: Phạm Thị T2, con có: 01 ; Tiền sự, tiền án: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, 21/2/2024 đến ngày 24/2/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn. Hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Lý Ngọc T3, sinh năm 1992 ; trú tại: Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Chị Phạm Thị T2, sinh năm 1981; trú tại: Thôn H, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 27/11/2023, anh Lý Ngọc T3, sinh năm 1992, ở xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc đến nhà Nguyễn Bảo T, sinh năm 1980, ở thôn H, xã B, huyện L đặt vấn đề cầm cố chiếc xe ô tô tải nhãn hiệu THACO, BKS 22C – 008.28 vay số tiền 100.000.000₫ để sử dụng vào mục đích kinh doanh, T đồng ý. Hai bên thỏa thuận lãi suất là 5.000đ/01 triệu/01 ngày (tương đương 182,5%/năm), 15 ngày trả lãi 01 lần. Sau đó, anh T3 ký vào giấy bán xe ô tô BKS 22C – 008.28 đề ngày 27/11/2023 do T viết, mục đích để bảo đảm cho khoản vay trên rồi T sử dụng tài khoản ngân hàng số [...] mang tên chị Phạm Thị T2, sinh năm 1981 là vợ của T mở tại Ngân hàng TMCP Q- chi nhánh V1 chuyển số tiền 100.000.000đ đến tài khoản ngân hàng số 2619666888 của anh T3 mở tại Ngân hàng TMCP K1 - chi nhánh V1. Sau khi nhận cầm cố chiếc xe ô tô BKS 22C – 008.28 cho anh T3 vay tiền, T đem chiếc xe ô tô trên đến gửi ở nhà bà Phan Thị T4, sinh năm 1956, ở thôn H, xã B, huyện L.
Sau khi vay tiền của T, anh T3 đã trả lãi cho T, cụ thể:
Kỳ thứ nhất: Từ ngày 27/11/2023 đến ngày 12/12/2023 (15 ngày), ngày 12/12/2023 T3 chuyển khoản cho T số tiền lãi 7.500.000đ. Trong đó, tiền lãi tính theo mức lãi suất cao nhất theo quy định của BLDS 20%/năm là: 821.918đ. T thu lời bất chính số tiền 6.678.082₫.
Kỳ thứ hai: Từ ngày 13/12/2023 đến ngày 01/01/2024 (20 ngày), anh T3 phải trả cho T số tiền lãi 10.000.000đ, tuy nhiên do anh T3 chưa có tiền trả lãi nên hai bên thống nhất T nhập số tiền lãi 10.000.000đ trên vào số nợ gốc là 100.000.000₫ thành 110.000.000đ và tính lãi trên số nợ gốc 110.000.000đ kể từ ngày 02/1/2024, thỏa thuận lãi suất là 5.000đ/01 triệu/01 ngày. Như vậy, từ ngày 13/02/2024 đến ngày 01/01/2024, anh T3 đã trả cho T số tiền lãi là 10.000.000đ, trong đó: tiền lãi tính theo mức lãi suất cao nhất theo quy định của BLDS 20%/năm là: 1.095.890đ. T thu lời bất chính số tiền 8.904.110đ.
Kỳ thứ ba: Từ ngày 02/01/2024 đến ngày 16/01/2024 (15 ngày), ngày 23/01/2024, anh T3 chuyển khoản trả cho T số tiền lãi 8.250.000đ. Trong đó, tiền lãi tính theo mức lãi suất cao nhất theo quy định của BLDS 20%/năm là: 904.110đ. T thu lời bất chính số tiền 7.345.890đ.
Kỳ thứ tư: Từ ngày 17/01/2024 đến ngày 01/02/2024 (16 ngày), ngày 03/02/2024, anh T3 chuyển khoản trả cho T số tiền lãi 8.800.000đ. Trong đó, tiền lãi tính theo mức lãi suất cao nhất theo quy định của BLDS 20%/năm là: 964.383đ. T thu lời bất chính số tiền 7.835.617₫.
Kỳ thứ năm: Từ ngày 02/02/2023 đến ngày 16/02/2022 (15 ngày), ngày 18/2/2024, T3 chuyển khoản trả cho T số tiền lãi 8.250.000đ. Trong đó, tiền lãi tính theo mức lãi suất cao nhất theo quy định của BLDS 20%/năm là: 904.110đ. T thu lời bất chính số tiền 7.345.890đ.
Kể từ ngày 17/02/2024 đến ngày 20/2/2024 là ngày hành vi vi phạm của T bị CQĐT phát hiện, anh T3 chưa trả lãi cho T nhưng T xác định sẽ tiếp tục thu với mức lãi suất như đã thỏa thuận trước đó. Như vậy, số tiền lãi anh T3 sẽ phải trả cho T từ ngày 17/02/2024 đến ngày 20/2/2024 (04 ngày) là 2.200.000đ. Trong đó, tiền lãi tính theo mức lãi suất cao nhất theo quy định của BLDS 20%/năm là: 241.096₫. T sẽ thu lời bất chính số tiền 1.958.904₫.
Như vậy, từ ngày 27/11/2023 đến ngày 01/01/2024 (35 ngày), số tiền lãi anh T3 đã trả cho T trên số tiền nợ gốc 100.000.000₫ là 17.500.000đ, tiền lãi tính theo mức lãi suất cao nhất theo quy định của BLDS 20%/năm là 1.917.808đ, T thu lời bất chính số tiền 15.582.192đ. Từ ngày 02/01/2024 đến ngày 16/02/2024, số tiền lãi anh T3 đã trả cho T trên số tiền nợ gốc 110.000.000₫ là 25.300.000đ, tiền lãi tính theo mức lãi suất cao nhất theo quy định của BLDS 20%/năm là 2.772.603đ, T thu lời bất chính số tiền 22.527.397đ. Từ ngày 17/02/2024 đến ngày 20/02/2024 là ngày T bị Cơ quan điều tra phát hiện, số tiền lãi T hướng đến là 2.200.000đ, tiền lãi tính theo mức lãi suất cao nhất theo quy định của BLDS 20%/năm là: 241.096đ, T sẽ thu lời bất chính số tiền 1.958.904đ. Tổng số tiền lãi T đã và sẽ thu của anh T3 là 45.000.000đ (số tiền lãi thực tế đã thu là 42.800.000₫), trong đó tiền lãi tính theo mức lãi suất cao nhất theo quy định của BLDS 20%/năm là: 4.931.507đ (tính theo số tiền lãi thực tế đã thu là 4.690.411đ), số tiền T đã và sẽ lời bất chính là 40.068.493₫ (số tiền thực tế đã thu là 38.109.589₫). Số tiền nợ gốc 110.000.000₫ anh T3 chưa trả cho T.
Ngày 20/02/2024, CQĐT khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Bảo T ở thôn H, xã B, huyện L, kết quả thu giữ: Số tiền 302.300.000đ, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS 22C-008.28, 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô BKS 22C-008.28, Giấy bán xe đề tên Trần Quang T5; Giấy bán xe đề tên Tống Ngọc C; Giấy bán xe đề tên Trần Văn T6; Giấy bán, cho, tặng xe đề tên Nguyễn Văn L; Giấy mua bán xe đề tên Dương Tiến Đ; Giấy bán, cho, tặng xe đề tên Lê Văn D; 01 giấy bán đất rừng sản xuất đề tên Ngô Quốc V; 01 giấy biên nhận vay tiền đề tên Hoàng Thái S; 01 quyển sổ bìa màu đen bên trong có ghi nhiều chữ và số khác nhau, 01 quyển sổ bên trong có ghi các chữ và số khác nhau.
Quá trình điều tra, chị Phạm Thị T2 là vợ T giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 xe ô tô nhãn hiệu THACO, BKS: 22C-008.28 màu xanh và 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 11, màu xanh, bên trong có lắp thẻ sim, T giao nộp 01 ĐTDĐ nhãn hiệu NOKIA, vỏ màu đen, bên trong lắp sim số 0363019954.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã yêu cầu Ngân hàng TMCP Q - chi nhánh V1 và Ngân hàng TMCP K1 - chi nhánh V1 sao kê tài khoản số [...] mang tên Phạm Thị T2 và tài khoản số 2619666888 mang tên Lý Ngọc T3, nghiên cứu bảng sao kê thấy có việc chuyển tiền, hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án .
Đối với bà Phan Thị T4 là người cho T gửi nhờ xe ô tô BKS: 22C - 008.28, quá trình điều tra xác định bà T4 không biết, không bàn bạc, trao đổi gì với T, không được hưởng lợi ích vật chất gì từ hành vi phạm tội của T nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.
Đối với chị Phạm Thị T2 là vợ của T và là người đứng tên mở tài khoản ngân hàng số [...] tại Ngân hàng TMCP Q, quá trình điều tra xác định sau khi mở tài khoản trên chị T2 cho T quản lý, sử dụng tài khoản vào việc kinh doanh vật liệu xây dựng của gia đình, chị T2 không biết, không bàn bạc, trao đổi gì với T về việc cho vay lãi nặng nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với chị T2 là có căn cứ.
Về vật chứng vụ án:
- Đối với xe ô tô tải nhãn hiệu THACO màu xanh, BKS 22C – 008.28 cùng giấy tờ xe, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Lý Ngọc T3, do vậy cần trả lại cho anh T3 nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh, bên trong có lắp thẻ sim, Nguyễn Bảo T sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội cần tịch thu bán sung quỹ nhà nước. Đối với thẻ sim cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 Điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, vỏ màu đen, bên trong lắp sim số 0363019954 và số tiền 302.300.000đ thu giữ khi khám xét khẩn cấp nơi ở của T, quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của T nên cần trả lại cho T nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Đối với 01 quyển sổ bên trong có 34 trang có ghi các chữ và số khác nhau trong đó có 01 trang là giấy bán xe ô tô đề ngày 27/11/2023, người bán Lý Ngọc T3 là tài liệu chứng minh tội phạm, CQĐT chuyển theo hồ sơ vụ án.
- Đối với Giấy bán xe đề tên Trần Quang T5 ngày 16/7/2020; Giấy bán xe đề tên Tống Ngọc C; Giấy bán xe đề tên Trần Văn T6; Giấy bán, cho, tặng xe đề tên Nguyễn Văn L ngày 30/12/2007; Giấy mua bán xe đề tên Dương Tiến Đ ngày 08/02/2024; Giấy bán, cho, tặng xe đề tên Lê Văn D ngày 10/10/2022; 01 giấy bán đất rừng sản xuất ngày 21/6/2022 đề tên Ngô Quốc V; 01 giấy biên nhận vay tiền đề tên Hoàng Thái S ngày 17/4/2021; 01 quyển sổ bìa màu đen bên trong có ghi nhiều chữ và số khác nhau. Quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của T hoặc hành vi vi phạm pháp luật khác, do T không đề nghị nhận lại nên Cơ quan điều tra chuyển theo hồ sơ vụ án.
Xử lý số tiền nợ gốc chưa trả, số tiền lãi đã trả như sau:
- Truy thu sung quỹ nhà nước số tiền 110.000.000đ của anh Lý Ngọc T3 là tiền nợ gốc anh T3 chưa trả cho Nguyễn Bảo T.
- Truy thu sung quỹ nhà nước của Nguyễn Bảo T số tiền 4.931.507₫ là tiền lãi thực tế đã thu theo quy định của BLDS 20%/năm.
- Đối với số tiền T đã và sẽ thu lời bất chính là 40.068.493đ, trong đó số tiền thực tế T đã thu lời bất chính của anh T3 là 38.109.589đ, cần trả lại cho anh T3. Quá trình điều tra, T đã trả cho anh T3 29.210.000đ, cần buộc T phải trả anh T3 số tiền còn lại là 8.899.589₫.
Tại Bản cáo trạng số: 60/CT-VKSTĐ ngày 04 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo truy tố bị cáo Nguyễn Bảo T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo: Giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Bảo T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 201; Điều 35; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; phạt: Bị cáo Nguyễn Bảo T từ 60 đến 80 triệu đồng sung quỹ nhà nước; đề nghị xử lý vật chứng: Trả lại anh Lý Ngọc T3 01 xe ô tô tải nhãn hiệu THACO màu xanh, BKS 22C – 008.28 cùng giấy tờ xe nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 11 có lắp thẻ sim.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Bảo T 01 ĐTDĐ nhãn hiệu NOKIA có lắp thẻ sim và số tiền 302.300.000đ nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Xử lý số tiền nợ gốc chưa trả, số tiền lãi đã trả như sau: Truy thu sung quỹ nhà nước số tiền 110.000.000₫ của anh Lý Ngọc T3 là tiền nợ gốc anh T3 chưa trả cho Nguyễn Bảo T; Truy thu sung quỹ nhà nước của Nguyễn Bảo T số tiền 4.931.507đ là tiền lãi thực tế đã thu theo quy định của BLDS 20%/năm.
- Đối với số tiền T đã và sẽ thu lời bất chính là 40.068.493đ, trong đó số tiền thực tế T đã thu lời bất chính của anh T3 là 38.109.589đ, cần trả lại cho anh T3. Quá trình điều tra, T đã trả cho anh T3 29.210.000đ, cần buộc T phải trả anh T3 số tiền còn lại là 8.899.589₫.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền vì áp dụng hình phạt chính là phạt tiền.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Bảo T đồng ý với nội dung luận tội của kiểm sát viên, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên sự vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc xác định tội danh và quyết định hình phạt đối với bị cáo, do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về nội dung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Bảo T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Trong khoảng thời gian từ ngày 27/11/2023 đến 20/02/2024, Nguyễn Bảo T đã cho Lý Ngọc T3 vay lãi nặng với mức lãi suất 5000đ/1 triệu/1 ngày tương ứng với lãi suất 182,5%/1 năm (gấp 9,125 lần lãi suất cao nhất theo quy định của BLDS 20%/năm). Trong đó: Từ ngày 27/11/2023 đến ngày 01/01/2024, T cho anh T3 vay 100.000.000đ tiền gốc, anh T3 đã trả 17.500.000đ, tiền lãi tính theo mức lãi suất cao nhất theo quy định của BLDS 20%/năm là 1.917.808đ, T thu lời bất chính số tiền 15.582.192đ. Từ ngày 02/01/2024 đến ngày 20/02/2024 là ngày T bị CQĐT phát hiện, T cho anh T3 vay 110.000.000đ tiền gốc, T đã và sẽ thu của anh T3 số tiền lãi là 27.500.000đ, tiền lãi tính theo mức lãi suất cao nhất theo quy định của BLDS 20%/năm là 3.031.699đ, T đã và sẽ thu lời bất chính số tiền 24.468.301đ. Tổng số tiền T đã và sẽ thu lời bất chính là 40.068.493đ, số tiền thực tế T đã thu lời bất chính là 38.109.589₫.
[4] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của người liên quan cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà cơ quan điều tra đã thu thập được. Hành vi của bị cáo cho vay lãi nặng của Nguyễn Bảo T đã phạm vào tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 201 BLHS.
Nội dung điều luật quy định:
“1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng..., thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm”.
Do đó, Bản Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[5] Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, xâm phạm đến lợi ích của công dân được pháp luật bảo vệ, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương.
[6] Về tình tiết tăng nặng: không có.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tự nguyện khắc phục hậu quả do tội phạm gây ra nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 BLHS
[8] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[9] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- Trả lại anh Lý Ngọc T3 01 xe ô tô tải nhãn hiệu THACO màu xanh, BKS 22C – 008.28 cùng giấy tờ xe nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 11 có lắp thẻ sim.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Bảo T 01 ĐTDĐ nhãn hiệu NOKIA có lắp thẻ sim và số tiền 302.300.000đ nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Xử lý số tiền nợ gốc chưa trả, số tiền lãi đã trả như sau: Truy thu sung quỹ nhà nước số tiền 110.000.000₫ của anh Lý Ngọc T3 là tiền nợ gốc anh T3 chưa trả cho Nguyễn Bảo T; Truy thu sung quỹ nhà nước của Nguyễn Bảo T số tiền 4.931.507đ là tiền lãi thực tế đã thu theo quy định của BLDS 20%/năm.
- Đối với số tiền T đã và sẽ thu lời bất chính là 40.068.493đ, trong đó số tiền thực tế T đã thu lời bất chính của anh T3 là 38.109.589đ, cần trả lại cho anh T3. Quá trình điều tra, T đã trả cho anh T3 29.210.000đ, cần buộc T phải trả anh T3 số tiền còn lại là 8.899.589₫.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tiền là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật cần chấp nhận.
[9] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Bảo T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 201; Điều 35; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Bảo T 65.000.000₫ (Sáu mươi lăm triệu đồng) để sung quỹ nhà nước.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Truy thu sung quỹ nhà nước số tiền 110.000.000₫ của anh Lý Ngọc T3 là tiền nợ gốc anh Lý Ngọc T3 chưa trả cho Nguyễn Bảo T.
Truy thu sung quỹ nhà nước của Nguyễn Bảo T số tiền 4.931.507đ là tiền lãi thực tế đã thu theo quy định của BLDS 20%/năm.
Buộc bị cáo Nguyễn Bảo T phải trả lại cho Lý Ngọc T3 số tiền là 38.109.589đ. Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Bảo T đã trả cho anh Lý Ngọc T3 số tiền 29.210.000đ. Số tiền còn lại là 8.899.589đ buộc bị cáo Nguyễn Bảo T phải trả cho anh Lý Ngọc T3.
Trả lại anh Lý Ngọc T3 01 đăng ký xe mang tên Nguyễn Văn D1; 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô BKS 008.28. Trả lại anh Lý Ngọc T3 01 xe ô tô tải nhãn hiệu THACO, BKS 22C – 008.28 nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 11 có lắp thẻ sim.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Bảo T 01 ĐTDĐ nhãn hiệu NOKIA có lắp thẻ sim và số tiền 302.300.000đ nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Các vật chứng trên có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/7/2024).
- Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Nguyễn Bảo T phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn thi hành án nếu bị cáo không thi hành khoản tiền trên thì hành tháng còn phải chịu lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
- Bị cáo, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Hạnh |
Bản án số 60/2024/HSST ngày 25/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 60/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Bảo Thành phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
