Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2024/HS-ST

Ngày: 25/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Ngọc Duy Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Long.
  2. Bà Lê Thị Ngọc Thúy.

- Thư ký phiên tòa: Ông La Tương Lai - Thư ký Toà án nhân dân huyện Gò Công Đông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên toà: Ông Phan Minh Tân - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 50/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

Phạm Thị Hồng N, sinh ngày 16/5/1997; nơi sinh: Tiền Giang; nơi cư trú: ấp D, xã P, huyện G, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Thanh H, sinh năm 1975 và bà Quách Hồng Q, sinh năm 1977; Chồng: Lê Văn C (đã ly hôn); Con: có 02 con người, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm sinh năm 2018.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Anh Nguyễn Trọng N1, sinh năm 1979; Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang. (đã chết)

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1932 (Có mặt);

Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang

Đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn T: Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1967; Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang (Có mặt);

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Ông Phạm Thanh H, sinh năm 1975; Địa chỉ: Ấp D, xã P, huyện G, tỉnh Tiền Giang (Có mặt);

* Người làm chứng:

- Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1972; Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang (Vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 26 tháng 01 năm 2024 bị cáo Phạm Thị Hồng N (có giấy phép lái xe hạng A1) điều khiển xe mô tô hai bánh nhãn hiệu HONDA loại WAVE S biển số 63B7-166.61 lưu thông trên tuyến huyện lộ 07 theo hướng từ xã T về xã K, huyện G, tỉnh Tiền Giang. Khi đang lưu thông trên đường đoạn thuộc ấp B, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang thì không làm chủ tốc độ, thiếu chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn với người đi bộ nên va chạm vào người đi bộ cùng chiều phía trước là anh Nguyễn Trọng N1, sinh năm 1979, cư trú ấp B, xã T, huyện G. Hậu quả nạn nhân Nguyễn Trọng N1 tử vong vào ngày 27/01/2024.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 27/01/2024 thể hiện:

Hiện trường nơi xảy ra sự việc trên tuyến đường huyện lộ 07, đoạn thuộc ấp B, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang chạy theo hướng Bắc – N, hướng Bắc dẫn về xã K, hướng Nam dẫn về xã T. Đoạn đường có chiều rộng 06 mét được trải nhựa bằng phẳng và khô ráo, được chia đều thành hai phần bởi vạch kẻ đứt màu vàng. Hai bên đường là khu vực nhà dân.

- Ký hiệu phương tiện, dấu vết hiện trường như sau:

  • + (X): Vùng va quẹt (theo nhận định của các bên tham gia khám nghiệm);
  • + (1): Vết trượt dính chất màu đen nghi là cao su, dài 1,55 mét;
  • + (2): Vị trí của nạn nhân Nguyễn Trọng N1 ngay sau khi xảy ra sự việc;
  • + (3): Vết cày không liên tục dài 14 mét;
  • + (4): Xe mô tô hai bánh màu nâu, đen hiệu WAVE S biển số 63B7-166.61;
  • + (5): Vết màu nâu đỏ nghi là máu, đã cũ, kích thước: (65 x 28) cm;

- Lấy trụ điện số 14 ở lề phía Đông của đường huyện lộ 07 làm chuẩn (điểm mốc), ký hiệu là A;

- Lấy mép phía Đông của đường huyện lộ 07 làm chuẩn, ký hiệu là MC;

- Mô tả hiện trường:

  • + Từ vật mốc vụ tai nạn giao thông ký hiệu là (A) về hướng T 22,75 mét và cách mép chuẩn (MC) 1,57 mét về hướng Tây là vùng va quẹt (X);
  • + Từ (A) về hướng T là 23,15 mét, cách mép chuẩn (MC) 1,55 mét về hướng Tây là điểm đầu của vết (1). Điểm kết thúc nằm ở phía Bắc so với điểm đầu và cách (MC) 0,84 mét;
  • + Từ điểm đầu của vết cày (2) về hướng Đông Nam 0,2 mét, cách (MC) 0,85 mét là vị trí của điểm đầu vết cày (3) có điểm cuối nằm ở phía Đông Nam so với điểm bắt đầu và cách (MC) 1,75 mét;
  • + Từ điểm kết thúc của vết (1) về hướng Đông Bắc 4,00 mét, cách (MC) về hướng Tây 0,25 mét là vị trí (2).
  • + Từ điểm kết thúc của vết (1) về hướng Bắc 1,26 mét, cách (MC) 1,75 mét là vị trí điểm bắt đầu, trùng với vị trí đầu gác chân trước bên trái của xe (4), cách MC 2,10 mét.
  • + Từ điểm kết thúc của vết (3) về hướng Đông Nam 0,66 mét, cách (MC) 1,59 mét là vị trí trục trước của xe (4). Xe (4) đang nằm ngã về bên trái, đuôi xe quay về hướng T, trục sau cách MC 2,52 mét.
  • + Từ điểm kết thúc của vết (3) về hướng Đông Bắc 1,05 mét, cách (MC) 1,75 mét là vị trí (5).

- Phương tiện, dấu vết, tài liệu và mẫu vật thu được: Thu tại vị trí (4): Xe mô tô hai bánh màu nâu, đen hiệu WAVE S biển số 63B7-166.61;

Biên bản khám phương tiện xe mô tô hai bánh màu nâu, đen hiệu WAVE S biển số 63B7-166.61, ngày 29/01/2024 thể hiện:

  • + Dấu vết trên phương tiện:
  • - Dấu vết trượt xước nhựa ốp gương phải; kích thước (KT): (07 x 1,5) cm;
  • - Dấu vết trượt xước bên phải nắp trước tay lái; kích thước (KT): (2,5 x 1,2) cm;
  • - Dấu vết trượt xước bên trái nắp trước tay lái; kích thước (KT): (5,2 x 3,5) cm;
  • - Dấu vết trượt xước ốp yếm phải; kích thước (KT): (16 x 16) cm;
  • - Dấu vết trượt xước ốp yếm trái; kích thước (KT): (13 x 6.5) cm;
  • - Dấu vết trượt xước ốp sườn trái; kích thước (KT): (03 x 02) cm;
  • + Kỹ thuật an toàn phương tiện:
  • - Mất gương trái;
  • - Gương hậu trái bị lệch từ trong ra ngoài;
  • - Các hệ thống điều khiển, phanh, đèn, còi, lốp bình thường;
  • + Tình trạng phương tiện: vận hành bình thường.

Tại Phiếu xét nghiệm của Bệnh viện Đ thì nồng độ cồn trong máu của Phạm Thị Hồng N lúc 22 giờ 30 phút ngày 26/01/2024 là: 1,46 g/l tương đương 31,68 mmol/L.

Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 39/2024/KLGĐTT-TTPY ngày 27/01/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh T, xác định nguyên nhân tử vong của tử thi Nguyễn Trọng N1: Chấn thương sọ não kín do xuất huyết dưới màn cứng, dưới nhện toàn bộ bán cầu não trái. Xuất huyết dưới nhện bán cầu não phải. Phù nhu mô não. Xuất huyết trong não thất bán cầu não phải. Vỡ vòm sọ do tai nạn giao thông.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) Xe mô tô hai bánh màu nâu, đen hiệu WAVE S biển số 63B7-166.61.

Tại Cáo trạng số 51/CT-VKS.GCĐ ngày 26/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông truy tố truy tố bị cáo Phạm Thị Hồng N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Phạm Thị Hồng N khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông đã truy tố, không tranh luận với nội dung luận tội của Đại diện Viện kiểm sát.

- Đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Trọng N1 là ông Nguyễn Văn T có đại diện theo ủy quyền chị Nguyễn Thị B trình bày: Gia đình bị hại không có ý kiến, yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự do bị cáo đã khắc phục cho gia đình bị hại rồi và không tranh luận với nội dung luận tội của Đại diện Viện kiểm sát, xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Thanh H trình bày: Ông không có ý kiến, yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự và không tranh luận với nội dung luận tội của Đại diện Viện kiểm sát, ông xin được nhận lại 01 (một) Xe mô tô hai bánh màu nâu, đen hiệu WAVE S biển số 63B7-166.61 do xe này là của ông, bị cáo mượn đi làm thì xảy ra sự việc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • + Về hình phạt:
  • Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38, Điều 65 Bộ luật hình sự.
  • + Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo.
  • + Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
  • Xử phạt bị cáo Phạm Thị Hồng N từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án.
  • Giao bị cáo Phạm Thị Hồng N cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện G, tỉnh Tiền Giang để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
  • + Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
  • Trả lại cho ông Phạm Thanh H: 01 (một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE S, số máy JC52E1150230, số khung 527DY063811, biển số 63B7 – 166.61
  • + Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan điều tra, truy tố trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa người làm chứng ông Nguyễn Văn M vắng mặt. Xét thấy, trong hồ sơ vụ án đã có lời khai của ông M về những vấn đề liên quan. Bị cáo, đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn T là đại diện hợp pháp của bị hại, Đại diện Viện kiểm sát cũng không có ý kiến gì về việc vắng mặt của người làm chứng trong vụ này nên Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3]. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, kết luận giám định pháp y, biên bản hiện trường và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 26 tháng 01 năm 2024 bị cáo Phạm Thị Hồng N điều khiển xe mô tô hai bánh biển số 63B7 – 166.61 thiếu chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, khi điều khiển xe mô tô gây ra tai nạn bị cáo có nồng độ cồn trong máu là 1,46 g/l tương đương 31,68 mmol/L nên va chạm vào người đi bộ cùng chiều phía trước là anh Nguyễn Trọng N1 gây tai nạn giao thông, hậu quả anh Nguyễn Trọng N1 tử vong nên bị cáo đã vi phạm quy định tại khoản 23 Điều 8, khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 58 Luật giao thông đường bộ; khoản 3 Điều 4, khoản 1, 2 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G1 quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ; khoản 1 Điều 35 Luật phòng chống tác hại rượu, bia. Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Hành vi của bị cáo Phạm Thị Hồng N thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự quy định:

  1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
    • Làm chết người;
  2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
    • Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông truy tố bị cáo với tội danh và Điều luật nêu trên là có cơ sở.

[4]. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng của người khác, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự, an toàn giao thông đường bộ tại địa phương. Bị cáo biết rõ khi tham gia giao thông mà trong người có nồng độ cồn vượt mức cho phép theo quy định pháp luật, không chú ý quan sát và không đảm bảo an toàn là vi phạm Luật giao thông đường bộ nhưng do chủ quan mà bị cáo đã gây ra tai nạn giao thông làm cho bị hại tử vong. Do đó, cần xử phạt bị cáo với mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

[5]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự,

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố bị cáo Phạm Thị Hồng N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi của mình; bị cáo đã chủ động xin lỗi gia đình bị hại, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại số tiền 22.000.000 đồng; gia đình bị hại có làm đơn xin bãi nại, không yêu cầu xử lý bằng pháp luật hình sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bản thân bị cáo phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự, đồng thời hoàn cảnh gia đình của bị cáo thuộc diện khó khăn về kinh tế, bị cáo đã ly hôn chồng và đang nuôi 02 đứa con nhỏ có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã P, huyện G, tỉnh Tiền Giang nên đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị can theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6]. Về hình phạt: Bị cáo Phạm Thị Hồng N có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng, có 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 và trong qúa trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa gia đình bị hại có làm đơn xin bãi nại, không yêu cầu xử lý bằng pháp luật hình sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bản thân bị cáo phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự, đồng thời hoàn cảnh gia đình của bị cáo thuộc diện khó khăn về kinh tế, bị cáo đã ly hôn chồng và đang nuôi 02 đứa con nhỏ có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã P, huyện G, tỉnh Tiền Giang là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cho bị cáo được hưởng án treo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật, cũng đủ tác dụng giáo dục và răn đe đối với bị cáo để trở thành người có ích cho xã hội.

[7]. Về trách nhiệm dân sự:

- Bị cáo Phạm Thị Hồng N đã chủ động tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho đại diện gia đình bị hại số tiền 22.000.000 đồng (hai mươi hai triệu đồng). Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn T là đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến, yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[8]. Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G đã tạm giữ: 01 (một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE S, số máy JC52E1150230, số khung 527DY063811, biển số 63B7 – 166.61 do ông Phạm Thanh H đứng tên chủ sở hữu. Hội đồng xét xử xét thấy, tại phiên tòa ông H đứng tên chủ sở hữu có yêu cầu được nhận lại tài sản. Nhận thấy, đây là tài sản của ông H, bị cáo phạm tội với lỗi vô ý nên căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự giao trả lại cho ông Phạm Thanh H xe mô tô nêu trên.

[9]. Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[10]. Xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
  2. Điều 2, Điều 4 và Điều 6 Nghị quyết 02/2018/NQ – HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Xử phạt bị cáo Phạm Thị Hồng N 03 (Ba) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (Năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phạm Thị Hồng N cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện G, tỉnh Tiền G giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Phạm Thị Hồng N thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 và Điều 68 của Luật Thi hành án hình sự.

“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án được hưởng án treo”.

  1. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Trả lại cho ông Phạm Thanh H: 01 (một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE S, số máy JC52E1150230, số khung 527DY063811, biển số 63B7 – 166.61

(Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G và Chi cục thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông)

  1. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Phạm Thị Hồng N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  1. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND huyện Gò Công Đông;
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện Gò Công Đông;
  • - Chi cục THADS huyện Gò Công Đông;
  • - Sở tư pháp tỉnh Tiền Giang;
  • - Nhà tạm giữ CA huyện Gò Công Đông;
  • - UBND xã Phước Trung;
  • - Bị cáo;
  • - Đại diện hợp pháp bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Ngọc Duy Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 60/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger