|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 60/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 24/7/2024
V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Như
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Tùng
Bà Phạm Thị Kim Lan
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hoa Hạ - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre tham gia phiên tòa:
Bà Huỳnh Thị Ngọc Điệp - Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 187/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2024 về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 151/2024/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Hồng C, sinh năm 1980;
Địa chỉ: 6 ấp A, xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng N, sinh năm 1984;
Địa chỉ: 6 ấp A, xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
(Bà C có yêu cầu giải quyết vắng mặt; ông N vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 02/5/2024, bản tự khai cùng các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị Hồng C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và chồng là ông Nguyễn Hoàng N đăng ký kết hôn vào năm 2006 tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Hôn nhân do tự nguyện tìm hiểu. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, vợ chồng sinh sống tại phường P, thành phố B, sau đó nhà bị giải toả nên chuyển về 622/1 ấp A, xã S, thành phố B sinh sống. Năm 2023, vợ chồng nảy sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân do bà phát hiện ông N có mối quan hệ và chung sống với người phụ nữ khác bên ngoài. Bà có trao đổi nhiều lần với ông N nhưng ông N vẫn không thay đổi. Từ đó, tình cảm giữa bà và ông N trở nên rạn nứt. Bà và ông N đã ly thân từ năm 2023 đến nay. Hiện tại, bà và ông N sống chung nhà nhưng mỗi người đều có cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai. Nay, bà xác định không còn tình cảm với ông N, bà yêu cầu được ly hôn với ông N.
Về con chung: Bà và ông N có với nhau 02 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc N1, sinh ngày 17/9/2007 và Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 18/6/2013. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung và không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà C khai tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà C khai không có.
Vì lý do bận công việc, bà C có đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt bà trong quá trình giải quyết toàn bộ vụ án.
Bị đơn ông Nguyễn Hoàng N:
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và các văn bản tố tụng khác cho ông N theo đúng quy định nhưng ông N vắng mặt không có lý do.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa xét xử đã thực hiện trình tự, thủ tục được pháp luật quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà C; về con chung, giao 02 cháu Nguyễn Thị Ngọc N1 và Nguyễn Hoàng P cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận việc bà C tạm thời không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; về nợ chung: không có. Án phí thực hiện theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật: Căn cứ đơn khởi kiện ngày 02/5/2024 (BL03) của bà Lê Thị Hồng C cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Quan hệ tranh chấp nêu trên là loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ khoản 3 điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài, vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện. Bị đơn ông Nguyễn Hoàng N có nơi cư trú tại xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Đối chiếu điểm a khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre có thẩm quyền giải quyết vụ án.
Về việc tham gia phiên tòa của đương sự: Tại đơn đề nghị ngày 21/6/2024, bà C có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt (BL42). Bị đơn ông N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà C và ông N.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà C và ông N đăng ký kết hôn vào ngày 02/11/2006 tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Việc đăng ký kết hôn giữa bà C và ông N là hoàn toàn tự nguyện, không bên nào bị ép buộc, đã tuân thủ đúng quy định pháp luật nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Tại đơn khởi kiện ngày 02/5/2024 (BL03), Bản tự khai (BL27) và Biên bản lấy lời khai ngày 05/6/2024 (BL28, 29) bà C trình bày hiện nay bà và ông N sống chung nhà, nhưng mỗi người đều có cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai. Ngoài ra, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập ông N đến để hòa giải nhằm để hàn gắn tình cảm vợ chồng giữa ông và bà C nhưng ông N không có mặt. Bên cạnh đó, Tòa án cũng đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và thông báo các tài liệu chứng cứ của bà C cho ông N biết nhưng ông N không có mặt, cũng như có ý thức bỏ mặt đối với yêu cầu ly hôn của bà C. Từ các tài liệu chứng cứ trên, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà C và ông N đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà C theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao là phù hợp.
[3] Về con chung: Bà C và ông N có với nhau 02 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc N1, sinh ngày 17/9/2007 và Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 18/6/2013. Tại Biên bản ghi nguyện vọng con chung ngày 21/6/2024 (BL37, 38), cháu N1 và cháu P trình bày hai cháu có nguyện vọng được sống chung với mẹ. Căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Điều 6 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao Hội đồng xét xử xét thấy để con chung phát triển ổn định, toàn diện cần giao cháu N1 và cháu P cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Ghi nhận sự tự nguyện của bà C tạm thời không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi hai con.
[4] Về tài sản chung: Bà C khai tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[5] Về các vấn đề khác: Bà C khai không có nợ chung nên không xem xét.
[6] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7] Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bà C phải chịu án phí hôn nhân và gia đình với số tiền 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điều 4, Điều 6 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao;
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Hồng C về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn” với bị đơn ông Nguyễn Hoàng N, cụ thể như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Hồng C được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng N.
- Về con chung: Giao 02 (hai) con chung tên Nguyễn Thị Ngọc N1, sinh ngày 17/9/2007 và Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 18/6/2013 cho bà Lê Thị Hồng C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lê Thị Hồng C tạm thời không yêu cầu ông Nguyễn Hoàng N cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chưa thành niên, không ai có quyền ngăn cản. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Bà Lê Thị Hồng C khai tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về các vấn đề khác: Bà Lê Thị Hồng C khai không có nợ chung nên không xem xét.
2. Án phí: Bà Lê Thị Hồng C phải chịu án phí hôn nhân và gia đình với số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào biên lai thu tạm ứng án phí số: 0004440 ngày 17/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre (Bà Lê Thị Hồng C đã nộp xong).
3. Về quyền kháng cáo: Bà Lê Thị Hồng C và ông Nguyễn Hoàng N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Thị Thanh Như |
Bản án số 60/2024/HNGĐ-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 60/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu ly hôn
