Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÙ YÊN,

TỈNH SƠN LA

Bản án số: 60/2024/HS-ST

Ngày 24-7-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA

* Tại điểm cầu trung tâm:

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Tân Việt

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lý Thị Dung

Ông Trần Minh Tiến

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Hằng - Kiểm sát viên.

* Tại điểm cầu thành phần:

- Kiểm sát viên: Bà Nguyễn Thị Hân

- Cảnh sát hỗ trợ tư pháp: Ông Đinh Văn Hải, ông Hà Đức Duy

Ngày 24 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La (điểm cầu trung tâm) và tại trụ sở Công an huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La (điểm cầu thành phần) xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo: Giàng A T, sinh ngày 19 tháng 6 năm 1961 tại Phù Yên – Sơn La. Nơi cư trú: Bản X, xã Y, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 0/12; dân tộc: Mông; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Giàng A D(đã chết) và bà Mùa Thị Dnh (đã chết); có vợ và 06 con; tiền án: không, tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13 tháng 4 năm 2024 đến nay, “có mặt”.

Người phiên dịch: ông Lò Như Hoa, sinh năm 1954; nghề nghiệp: Giáo viên tiếng Mông (đã nghỉ hưu); địa chỉ: bản Giáo, xã Huy Tân, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14h ngày 13/4/2024, bị cáo T đi bộ một mình từ nhà ở bản Suối Ó, xã Quang Huy đến bản Suối Ngang, xã Quang Huy để tìm mua ma tuý về sử dụng. Khi đi đến địa phận bản Suối Ngang, xã Quang Huy bị cáo T gặp và nhờ một người đàn ông lạ mặt mua hộ 400.000 đồng ma túy. Người đàn ông cầm tiền đi khoảng 10 phút rồi quay lại đưa cho T 05 gói nilon, trong đó có 03 gói nilon màu trắng, 01 gói nilon màu xanh, 01 gói nilon màu hồng bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng. Mua được ma túy, T gói chung vào 01 gói nilon màu hồng, cất vào túi áo trước ngực bên trái đang mặc rồi đi về. Khi về đến khu vực bản Suối Ó, xã Quang Huy, huyện Phù Yên thì bị Công an xã Quang Huy bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.

Cơ quan CSĐT Công an huyện Phù Yên phối hợp với các cơ quan liên quan tiến hành mở niêm phong, cân tịnh khối lượng vật chứng như sau: T1 = 0,106gam; T2 = 0,102gam; T3 = 0,027gam; T4 = 0,123gam; T5 = 0,115gam. Tổng khối lượng là 0,473gam và lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định. Tại Kết luận giám định số: 913/KL-KTHS ngày 17/4/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu từ T1 đến T5 là ma túy; Loại Heroine; Khối lượng của mẫu gửi giám định 0,473gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,473gam; Loại Heroine. Mẫu đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.

Với những tình tiết như trên, tại Cáo trạng số: 32/CT – VKS ngày 25 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La đã truy tố Giàng A T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Giàng A T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội, đề nghị Hội đồng xét xử kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Giàng A T từ 12 đến 15 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ban đầu khi bắt quả tang; 02 mảnh nilon màu hồng; 03 mảnh nilon màu trắng và 01 mảnh nilon màu xanh.

Bị cáo Giàng A T trình bày ý kiến tranh luận, nhất trí với quyết định truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.

Kết thúc tranh luận, bị cáo nói sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phù Yên, Điều tra viên và Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng quy định theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về hành vi phạm tội, tại phiên tòa bị cáo Giàng A T khai nhận hành vi cất giữ trái phép 0,473 gam Heroine, mục đích để sử dụng. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

    Như vậy, hành vi của Giàng A T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

  3. Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân người phạm tội và về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
    1. Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hại lớn cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý các chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức được việc “Tàng trữ trái phép chất ma túy” bị pháp luật nghiêm cấm nhưng để thỏa mãn cơn nghiện ma túy, bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật, cố ý phạm tội.
    2. Về nhân thân, bị cáo Giàng A T là người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn thấp, không biết chữ.
    3. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo sức khỏe yếu, khi phạm tội đã 63 tuổi, nhận thức pháp luật có nhiều hạn chế. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

    Về hình phạt chính, từ việc đánh giá những căn cứ quyết định hình phạt ở trên, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo với mức hình phạt tương xứng với tính chất hành vi phạm tội.

    Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng,...”. Theo quy định trên, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án (bút lục số 83 - 84) và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế gia đình còn khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  4. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì niêm phong ban đầu khi bắt quả tang; 02 mảnh nilon màu hồng; 03 mảnh nilon màu trắng và 01 mảnh nilon màu xanh, xác định là vật chứng, vật không có giá trị; căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử cần tịch thu, tiêu hủy.

    Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã mua giúp ma túy cho bị cáo T. Bị cáo không biết họ tên, địa chỉ, ngoài lời khai của bị cáo T, không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh nên không có căn cứ để xử lý.

    Do đến ngày xét xử, thời hạn tạm giam đối với bị cáo đã hết nên Hội đồng xét xử cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.

  5. Về án phí: Bị cáo là người trên 60 tuổi, tại phiên tòa bị cáo đề nghị được miễn án phí, căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, Hội đồng xét xử cần miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

  1. Tuyên bố: Bị cáo Giàng A T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt bị cáo Giàng A T 14 (mười bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13 tháng 4 năm 2024 (ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ). Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

  2. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

    Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;

    Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ban đầu khi bắt quả tang; 02 mảnh nilon màu hồng; 03 mảnh nilon màu trắng và 01 mảnh nilon màu xanh.

  3. Về án phí:

    Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; các Điều 14, 15; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;

    Bị cáo Giàng A T được miễn nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (24/7/2024).

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại (nếu có);
  • - VKSND huyện Phù Yên; Giao
  • - Người bào chữa (nếu có);
  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh;
  • - Cơ quan điều tra- CA huyện ;
  • - CQ Thi hành án hình sự; Gửi
  • - Trại TG (nhà tạm giam);
  • - Sở tư pháp tỉnh;
  • - Người có QL,NVLQ (nếu có);
  • - Chi cục THADS huyện (án có hiệu lực);
  • - Lưu: HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Tân Việt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 60/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giàng A Tông phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger