Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LAI VUNG

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 60/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 24-07-2024

Về việc: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Huỳnh Thị Bích Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Quang Kim Cúc;

Ông Đặng Văn Hai

Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Phương Nhi - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lai Vung.

Ngày 24 tháng 07 năm 2024 tại hội trường Toà án nhân dân huyện Lai Vung xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 173/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 05 năm 2024, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 06 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 339/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 04 tháng 07 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Mã Ngọc T, sinh năm 1976 (có mặt); Địa chỉ: Số nhà E, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; Tạm trú: 315/TK ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp;
  2. Bị đơn: Ông Huỳnh Chí T1, sinh năm 1973 (có mặt); Địa chỉ: Số nhà E, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo các lời khai có trong hồ sơ cũng như tại phiên toà nguyên đơn Mã Ngọc T trình bày:

Năm 1997 Mã Ngọc T và Huỳnh Chí T1 quen nhau tìm hiểu và tiến đến hôn nhân, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp ngày 07/12/2002; Quá trình sống chung vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm thường hay cải nhau, Huỳnh Chí Tâm tính gia trưởng, có lời lẽ không đúng, có hành vi bạo lực gia đình, trước đây khoảng 01 năm Mã Ngọc T đã nộp đơn ly hôn tại Tòa án, sau khi hòa giải động viên vợ chồng đoàn tụ hàn gắn tình cảm nhưng anh T1 không thay đổi, anh T1 đánh Mã Ngọc T vài lần, 01 lần vào tháng 12 năm 2022 phải điều trị tại Trạm Y Tế, lần đánh gần đây nhất là tháng 03/2024 điều trị tại Trung tâm Y tế huyện L và có quen với người phụ nữ khác, vợ chồng sống ly thân hơn 03 tháng nay. Nay tôi thấy không còn khả năng đoàn tụ, tôi nhất quyết yêu cầu được ly hôn với Huỳnh Chí T1. Về con chung: Có 2 con chung là Huỳnh Đức T2, sinh ngày 12/7/1998 và Huỳnh Chí T3, sinh ngày 05/10/2003, các con chung đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn Huỳnh Chí T1 trình bày: Vợ chồng tôi có đăng ký kết hôn đúng như Mã Ngọc T trình bày, trong thời gian chung sống vợ chồng có mâu thuẫn do Mã Ngọc T ghen tuông vô cớ, chỉ là bạn bè làm ăn, chứ anh T1 không có quen biết với người phụ nữ khác, trong lúc cải nhau, nóng giận có đánh vợ 01 – 02 bạt tay, Huỳnh Chí T1 muốn vợ chồng đoàn tụ, không đồng ý ly hôn. Về con chung: Có 2 con chung là Huỳnh Đức T2, sinh ngày 12/7/1998 và Huỳnh Chí T3, sinh ngày 05/10/2003, các con chung đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về tài sản chung: Yêu cầu Mã Ngọc T thỏa thuận giải quyết xong mới ly hôn nhưng Huỳnh Chí T1 không có làm đơn yêu cầu, không cung cấp chứng cứ, không có tiền đóng tạm ứng án phí và chi phí tố tụng; Về nợ chung: Yêu cầu Mã Ngọc T thỏa thuận giải quyết xong mới ly hôn nhưng Huỳnh Chí T1 không có làm đơn yêu cầu, không cung cấp chứng cứ, không có tiền đóng tạm ứng án phí và chi phí tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Mã Ngọc T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn giữa Mã Ngọc T với Huỳnh Chí T1, đây là vụ án tranh chấp “Ly hôn”. Bị đơn thường trú tại huyện L, tỉnh Đồng Tháp cho nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung theo quy định tại khoản 1, Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa Mã Ngọc T và Huỳnh Chí T1 có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận là vợ chồng. Quá trình sống chung vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm thường hay cải nhau, Huỳnh Chí Tâm tính gia trưởng, có lời lẽ không đúng, có hành vi bạo lực gia đình, trước đây khoảng 01 năm Mã Ngọc T đã nộp đơn ly hôn tại Tòa án, sau khi hòa giải động viên vợ chồng đoàn tụ hàn gắn tình cảm nhưng anh T1 không thay đổi, anh T1 đánh Mã Ngọc T vài lần, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, Mã Ngọc T nhất quyết xin ly hôn với Huỳnh Chí T1. Huỳnh Chí T1 thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn, lúc ghen tuông, cải nhau trong lúc nóng giận có những lời lẽ, hành động không đúng, Huỳnh Chí T1 không đồng ý ly hôn nhưng Huỳnh Chí T1 không có biện pháp hay hành động gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng, vợ chồng không tin tưởng nhau, vào năm 2023 Mã Ngọc T đã nộp đơn ly hôn tại Tòa án, sau khi hòa giải động viên vợ chồng đoàn tụ hàn gắn tình cảm nhưng anh T1 không thay đổi, vợ chồng thường cải nhau, không tin tưởng nhau, cuộc sống không hạnh phúc, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn. Mặc dù, Tòa án đã kiên trì hòa giải nhưng Mã Ngọc T vẫn nhất quyết yêu cầu ly hôn với Huỳnh Chí T1, không muốn vợ chồng hàn gắn tình cảm. Xét thấy mâu thuẫn của Mã Ngọc T với Huỳnh Chí T1 ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của Mã Ngọc T là có căn cứ, đúng theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”...

[3] Về con chung: Có 2 con chung là Huỳnh Đức T2, sinh ngày 12/7/1998 và Huỳnh Chí T3, sinh ngày 05/10/2003, các con đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản khi ly hôn: Mã Ngọc T không yêu cầu giải quyết; Huỳnh Chí T1 yêu cầu Mã Ngọc T thỏa thuận giải quyết xong mới ly hôn nhưng anh T1 không làm đơn yêu cầu, không cung cấp chứng cứ, không có tiền đóng tạm ứng án phí và chi phí tố tụng nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện thành vụ án khác theo quy định pháp luật.

[5] Về nợ khi ly hôn: Mã Ngọc T không yêu cầu Tòa án giải quyết; Huỳnh Chí T1 yêu cầu Mã Ngọc T thỏa thuận giải quyết xong mới ly hôn nhưng anh T1 không làm đơn yêu cầu, không cung cấp chứng cứ, không có tiền đóng tạm ứng án phí và chi phí tố tụng nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết nếu sau này có phát sinh tranh chấp, khởi kiện thành vụ án khác theo quy định pháp luật.

[6] Về tiền tạm ứng án phí, án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn và án phí về cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của Mã Ngọc T. Mã Ngọc T được ly hôn với Huỳnh Chí T1.
  2. Về con chung: Là Huỳnh Đức T2, sinh ngày 12/7/1998 và Huỳnh Chí T3, sinh ngày 05/10/2003, các con đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  3. Về tài sản và nợ khi ly hôn: Mã Ngọc T và Huỳnh Chí T1 không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  4. Án phí và tạm ứng án phí sơ thẩm:

    Mã Ngọc T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0001651, ngày 07/05/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 24/07/2024.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Lai Vung;
  • - Chi Cục THADS H. LV;
  • - UBND xã Tân Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HSVA, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Bích Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2024/HNGĐ-ST ngày 24/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn

  • Số bản án: 60/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger