Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIAO THỦY

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2024/HS-ST

Ngày: 24 - 7 -2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Xuân Trường;

Ông Đoàn Trung Tuyến.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Phú - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 57/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

Mai Văn C, sinh năm 1981, tại huyện G, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm G, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Xuân N và bà Cao Thị L; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 11-8-2010, bị Toà án nhân dân huyện Giao Thuỷ xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Ngày 28-01-2016 bị Toà án nhân dân huyện Giao Thuỷ xử phạt 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” chấp hành xong án phạt tù ngày 07-7-2018; bị tạm giữ từ ngày 05-4-2024, chuyển tạm giam từ ngày14-04-2024 cho đến nay; “có mặt”.

Người làm chứng: Chị Ông Thị P; “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 08 giờ, ngày 05-4-2024, Tổ tuần tra Công an thị trấn N, huyện G làm nhiệm vụ tại trục đường T thuộc tổ dân phố S, thị trấn N phát hiện Mai Văn C đang ngồi tại quán nước của chị Ông Thị P có biểu hiện nghi vấn. Tổ tuần tra đã yêu cầu kiểm tra hành chính đối với C. Quá trình kiểm tra C đã tự giác giao nộp 16 gói nhỏ gói bằng giấy báo và giấy lịch bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng, C khai nhận đó là heroin C cất giấu với mục đích để sử dụng cho bản thân. Ngoài ra Tổ tuần tra còn thu giữ 01 xe mô tô biển kiểm soát 18G1-354.26.

Tại bản kết luận giám định số 708/KL-KTHS ngày 10/4/2024 của Phòng K - Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 16 (mười sáu) gói nhỏ được gói bên ngoài mỗi gói bằng giấy báo và giấy lịch, được niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định đều là ma tuý. Loại ma tuý: Heroine (H). Khối lượng mẫu M1: 1,624 gam".

Tại bản Cáo trạng số 58/CT-VKS-GT ngày 18 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định đã truy tố Mai Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, công nhận nội dung bản cáo trạng đã truy tố là đúng.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quanđiểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố Mai Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt Mai Văn C từ 01 năm 09 tháng tù đến 02 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu toàn bộ số ma túy hoàn trả mẫu vật sau giám định. Bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì; do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ của vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Khoảng 08 giờ ngày 05-4-2024, tại quán nước của chị Ông Thị P thuộc tổ dân phố S, thị trấn N, huyện G; Mai Văn C có hành vi cất giấu trái phép 1,624 gam heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Tổ tuần tra Công an thị trấn N phát hiện bắt quả tang. Nhận thấy bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an tại địa phương; do đó hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt chính: Căn cứ các quy định của pháp luật, tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Hội đồng xét xử thấy bị cáo đã từng hai lần bị xử phạt về hành vi ma túy nay tiếp tục phạm tội chứng tỏ sự coi thường pháp luật của bị cáo nên cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, có như vậy mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời đáp ứng công tác phòng chống tội phạm nói chung.

[6] Về nguồn gốc số Heroine thu giữ của bị cáo: Bị cáo khai khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 05-4-2024, bị cáo đến khu vực cầu D mua ma túy với giá 2.500.000 đồng của một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ để sử dụng. Nhận thấy, ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để xử lý đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Về xử lý vật chứng: Số Heroine hoàn trả mẫu vật sau giám định là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu cho tiêu hủy.

[9] Đối với 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 18G1-354.26 đã thu giữ của C, quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của anh Mai Quốc V (là em trai của C), khi C mượn xe anh V không biết C đi mua ma tuý nên Cơ quan Điều tra đã trả lại xe cho anh V là phù hợp.

[10] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:

    Tuyên bố bị cáo Mai Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo 02 năm 06 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 05-4-2024.

  2. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì hoàn trả mẫu vật sau giám định số 708/KL-KTHS ngày 10/4/2024 của Phòng K công an tỉnh N (Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng số 73/2024 lập ngày 19/6/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định).
  3. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Mai Văn C phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Giao Thủy;
  • - CQĐT Công an huyện Giao Thủy;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Giao Thủy;
  • - Chi cục THADS huyện Giao Thủy;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu VT; hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 60/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mai Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo 02 năm 06 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger