|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 60/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 24/6/2024
Về việc tranh chấp: “Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Long Hồ.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Minh Quang.
- Bà Đào Thị Tuyết Mai.
Thư ký phiên Tòa: Ông Lê Minh Trọng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Lanh – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 211/2024/TLST–HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Tống Văn H, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.
Bị đơn: Chị Phan Thị Kiều V, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.
Các đương sự có mặt đầy đủ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn xin ly hôn đề ngày 05/4/2024, bản tự khai ngày 13/5/2024 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Tống Văn H trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Anh H và chị V tự nguyện tiến tới hôn nhân trên tinh thần tự nguyện, cưới nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B vào năm 1999. Thời gian đầu sống chung có hạnh phúc nhưng đến tháng 3/2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, dẫn đến thường xuyên cự cãi nhau, không tìm được tiếng nói chung, từ đó cho đến nay, mỗi người một cuộc sống riêng, không ai quan tâm ai. Nay, thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên anh H yêu cầu Tòa án cho ly hôn với chị V.
- Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng anh chị có 02 chung tên là Tống Thị Kiều M, sinh ngày 28/10/2001, Tống Phan Hoàng H1, sinh ngày 12/12/2007. Cháu M đã trưởng thành, có khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết. Khi ly hôn anh H đồng ý để chị V nuôi con chung Tống Phan Hoàng H1, sinh ngày 12/12/2007 và cấp dưỡng nuôi con 4.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu H1 thành niên.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
* Tại Bản tự khai ngày 13/5/2024, Biên bản lấy lời khai ngày 13/5/2024 và những lời trình bày tiếp theo tại phiên tòa, chị Phan Thị Kiều V có ý kiến như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Anh H và chị V tự nguyện tiến tới hôn nhân trên tinh thần tự nguyện, cưới nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B vào năm 1999. Thời gian đầu sống chung có hạnh phúc nhưng đến tháng 11/2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh H thường đi nhậu nhẹt, ca hát với bạn bè, không quan tâm chăm lo cuộc sống gia đình. Từ tháng 11/2023, anh chị ly thân nhau từ đó cho đến nay, mỗi người một cuộc sống riêng, không ai quan tâm ai. Nay, anh H khởi kiện yêu cầu Tòa án cho ly hôn với chị V thì chị không đồng ý vì chị còn thương chồng, con.
- Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng anh chị có 02 chung tên là Tống Thị Kiều M, sinh ngày 28/10/2001, Tống Phan Hoàng H1, sinh ngày 12/12/2007. Cháu M đã trưởng thành, có khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết. Khi ly hôn, chị V yêu cầu nuôi con chung Tống Phan Hoàng H1, sinh ngày 12/12/2007 và yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con 4.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu H1 thành niên.
- Về tài sản chung: Tại Bản tự khai ngày 13/5/2024, Biên bản lấy lời khai ngày 13/5/2024, chị V có ý kiến tài sản chung tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại phiên tòa hôm nay, chị V có yêu cầu giải quyết chia tài sản chung là nhà ở và các quyền sử dụng đất.
- Về nợ chung: Không có.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Đối với Thẩm phán có chấp hành tốt theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, thực hiện đúng các nguyên tắc do pháp luật quy định. Đối với những người tham gia tố tụng thì nguyên đơn chấp hành tốt, bị đơn vắng mặt không lý do là vi phạm nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng các Điều 51, 56, 57, 58, 59, 81, 82, 83, 84, 119, 116 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Tống Văn H đối với chị Phan Thị Kiều V.
- Về con chung: Giao con chung tên Tống Phan Hoàng H1, sinh ngày 12/12/2007 cho chị Phan Thị Kiều V được nuôi dưỡng. Buộc anh Tống Văn H cấp dưỡng nuôi con 4.000.000 đồng/tháng kể từ ngày tuyên án cho đến khi cháu H1 thành niên.
- Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không xét đến. Đối với yêu cầu chia tài sản chung của chị Phan Thị Kiều V đưa ra sau phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải không phù hợp quy định pháp luật nên không chấp nhận.
- Về nợ chung: Hai bên khai không có, nên không xét đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Anh Tống Văn H khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với chị Phan Thị Kiều V. Do đó, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này được xác định là “Ly hôn” theo quy định tại khoản 14 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn chị Phan Thị Kiều V có đăng ký thường trú và hiện đang sinh sống tại Ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre. Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Bình Đại.
- Về nội dung vụ án:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Anh H và chị V cưới nhau vào năm 1999 trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre theo Giấy chứng nhận kết hôn số 210 ngày 12 tháng 01 năm 1999 theo đúng quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa anh H và chị V được công nhận hợp pháp.
Nay, anh H yêu cầu ly hôn chị V có ý kiến không đồng ý vì còn thương chồng, thương con. Hội đồng xét xử xét thấy: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của anh H, chị V trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, đều xác định được cuộc sống vợ chồng của anh chị đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không cùng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cự cãi nên anh chị đã ly thân từ tháng 11/2023 cho đến nay. Tại phiên tòa, chị V cũng thừa nhận anh chị có nhiều mâu thuẫn, anh H thường đi nhậu nhẹt, ca hát với bạn bè, không quan tâm chăm lo cuộc sống gia đình. Chị V xác định từ khi ly thân, chị và anh H mỗi người đã có một cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai, nhiều lần hàn gắn tình cảm, nhờ cha mẹ hai bên tác động nhưng không thành, chị cũng xác định anh H đã không còn tình cảm với chị, việc chị không đồng ý ly hôn vì chị còn thương anh H.
Từ những căn cứ trên có cơ sở để Hội đồng xét xử xác định giữa anh H và chị V đã không còn quan tâm, chăm sóc đến cuộc sống của nhau, cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình. Điều đó cũng chứng tỏ quan hệ hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của anh H là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về con chung: Trong quá trình sống chung giữa anh H và chị V có 02 chung tên là Tống Thị Kiều M, sinh ngày 28/10/2001, Tống Phan Hoàng H1, sinh ngày 12/12/2007. Cháu M đã trưởng thành, có khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết. Khi ly hôn, chị V yêu cầu nuôi con chung Tống Phan Hoàng H1, sinh ngày 12/12/2007 và yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con 4.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu H1 thành niên.
Hội đồng xét xử xét thấy: Từ khi ly thân đến nay, chị V nuôi con chung vẫn phát triển bình thường và cháu cũng có ý kiến được sống chung với mẹ khi ly hôn (bút lục 29). Do đó, nhằm để ổn định về tinh thần, quyền lợi về mọi mặt của con chung nên để chị V được tiếp tục nuôi con chung là phù hợp với nguyện vọng của cháu Hoàng H1 và phù hợp quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
[5] Về tài sản chung: Anh H có yêu cầu hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại phiên tòa, chị V có yêu cầu chia tài sản chung là các quyền sử dụng đất và các tài sản khác.
Xét thấy, yêu cầu chia tài sản chung của chị V đưa ra sau phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải là vi phạm quy định tại khoản 3 Điều 200 Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết yêu cầu chia tài sản chung của chị V trong vụ án này. Tuy nhiên, việc này không làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp và không làm mất quyền khởi kiện của chị V, nếu có yêu cầu chị V có thể khởi kiện bằng một vụ án khác.
[6] Về nợ chung: Hai bên khai không có nên không xét đến.
[7] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Anh Tống Văn H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 14 Điều 3, các Điều 51, 56, 57, 58, 59, 81, 82, 83, 84, 119, 116 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Tống Văn H đối với chị Phan Thị Kiều V. Cho ly hôn giữa anh Tống Văn H và chị Phan Thị Kiều V.
Quan hệ hôn nhân giữa anh Tống Văn H và chị Phan Thị Kiều V theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 210 ngày 12 tháng 01 năm 1999 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre chấm dứt kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
- Về nuôi con chung:
Giao con chung Tống Phan Hoàng H1, sinh ngày 12/12/2007 cho chị Phan Thị Kiều V trực tiếp nuôi dưỡng.
Anh Tống Văn H có nghĩa vụ đóng góp nuôi con cho chị Phan Thị Kiều V với số tiền 4.000.000 đồng/tháng (Bốn triệu đồng một tháng). Thời gian cấp dưỡng nuôi con tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (24/6/2024) cho đến khi cháu Hoàng H1 thành niên (đủ 18 tuổi).
Anh Tống Văn H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Chị Phan Thị Kiều V trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh Tống Văn H trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84, Điều 116, Điều 119 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, đồng thời theo yêu cầu của anh H, chị V, Tòa án có thể quyết định thay đổi người nuôi con và thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.
- Về nợ chung: Hai bên khai không có nên không xét đến.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Anh Tống Văn H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh H đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0005647 ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Vậy, anh Tống Văn H đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Long Hồ |
Bản án số 60/2024/HNGĐ-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE về ly hôn
- Số bản án: 60/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh H xin ly hôn chị V
