Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÒA BÌNH

TỈNH HÒA BÌNH

Bản án số: 60/2024/HS – ST

Ngày 24/5/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH – TỈNH HÒA BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Như Hoa và bà Nguyễn Thị Lan

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài Thương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Đặng Quốc Toản- Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình mở phiên tòa xét xử công khai thẩm định số 58/2024/TLST - HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2024/QĐXXST – HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Lường Văn L, sinh ngày 07/3/2000 tại Yên Bái.

Nơi cư trú: Bản Mớ, xã H, thị xã N, tỉnh Yên Bái; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam, Tôn giáo: Không; Con ông: Lường Văn H, sinh năm 1974 và bà Cẩm Thị C, sinh năm 1972; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, Tiền sự: Không

Nhân thân: Ngày 25/8/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

Ngày 13/5/2024 bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, thành phố Hà Nội khởi tố về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/02/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

1. Chị Vũ Thị D, sinh năm 1984; Có mặt. Nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.

2. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh Võ Quốc T, sinh năm 1974; Có mặt.

Nơi cư trú: Xóm Đ, xã M, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lường Văn L là người không có việc làm ổn định. Trong thời gian từ ngày 10/4 đến ngày 12/4/2024 L đã hai lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng 12 giờ ngày 10/02/2024, L đi bộ trên đường Q tại địa phận tổ dân phố N, phường T, thành phố H. Khi đi qua nhà chị Vũ Thị D, L phát hiện chiếc xe mô tô nhãn hiệu Hon da Lead, Biển kiểm soát 30H8-1516 dựng trước cửa nhà, trên ổ khóa điện đang cắm sẵn chìa khóa. Thấy không có ai để ý, L đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe. L đến vị trí để xe, xe, mở khóa điện, nổ máy rồi điều khiển xe đi ra Quốc lộ F hướng Hà Nội đi thành phố H. Khi đi đến khu vực trước cổng Ủy ban nhân dân thành phố H, tỉnh Hòa Bình L dừng lại dùng điện thoại di động để chụp lại hình ảnh chiếc xe vừa trộm cắp được, sau đó L điều khiển xe đến quán internet tên G để chơi game.

Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, L sử dụng tài khoản mạng xã hội tên “Độc Thân” của mình để đăng tải hình ảnh chiếc xe mô tô vừa trộm cắp được lên nhóm Facebook tên "Mua bán xe máy" để rao bán chiếc xe. Sau đó, có một tài khoản Facebook (L không nhớ tên tài khoản) nhắn tin trao đổi mua bán xe với L, L đồng ý bán cho người này chiếc xe với giá 1.700.000 đồng và hẹn địa điểm giao xe tại trước cửa quán game. Khoảng 40 phút sau, có một người đàn ông và một người phụ nữ đến đưa cho L số tiền 1.700.000 đồng và mang xe đi còn L tiếp tục quay lại quán G1 chơi game.

Đến ngày 13/02/2024, do tiêu hết tiền bán xe nên L1 đã đến cửa hàng mua bán, sửa chữa điện thoại Huy Mobile bán chiếc điện thoại di động của mình với giá 250.000 đồng và tiếp tục quay lại chơi game tiếp. Sau khi phát hiện bị mất xe mô tô chị Vũ Thị D đã làm đơn trình báo đến Công an thành phố H.

Tại Kết luận định giá tài sản số 52/KL-HĐĐGTS ngày 13/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố H kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu xám, Biển kiểm soát 30H8-1516, tình trạng đã qua sử dụng, thời điểm định giá tháng 02/2024 có giá trị 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).

Lần thứ 2: Khoảng 5 giờ ngày 14/02/2024 sau khi chơi game xong, khi ra về L phát hiện trước cửa quán có chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, Biển kiểm soát 28H1- 220.44 của anh Đào Vũ Xuân H1 nên này sinh ý định trộm cắp chiếc xe để bán lấy tiền chỉ tiêu. Lĩnh quan sát xung quanh không thấy ai nên đã dắt chiếc xe mô tô trên ra khu vực phía sau Kho bạc nhà nước tỉnh Hòa Bình. L dựng xe, dùng tay luồn vào kẽ hở giữa ốp nhựa phía trước xe và chắn bùn bảnh trước, kéo dây điện nổi từ ắc quy với khóa điện và dây điện nổi từ khóa điện với bộ phận khởi động xe (Công tắc đề), dùng bật lửa đốt cháy phần vỏ nhựa của dây điện và đấu trực tiếp nguồn điện từ ắc quy vào bộ phận khởi động. Sau khi đầu dây điện song L ngồi lên xe dùng cần khởi động đạp nổ máy rồi điều khiển xe đi theo hướng Hòa Bình đi Hà Nội, khi đi đến khu vực xóm Đ, xã M, thành phố H, L nhìn thấy anh Võ Quốc T đang đứng trước cửa nhà nên dừng lại nói với anh T là muốn bán chiếc xe, ngu nguồn gốc xe là xe xe của L, giấy tờ xe bị mất. L đang cần tiền nên muốn bán gấp. Do tin tưởng L nên anh T đồng ý mua chiếc xe với giá 1.500.000 đồng và giao tiền cho L. Sau đó L tiếp tục vào quay lại để chơi game.

Đến 15 giờ cùng ngày, L đến Công an phường P, thành phố H đầu thú về hành vi trộm cắp tài sản của mình. Đến 17 giờ 40 phút cùng ngày, anh Võ Quốc T đã giao nộp xe mô tô cho Cơ quan Công an thành phố H.

Tại Kết luận định giá tài sản số 31/KL-HĐĐGTS ngày 19/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố H kết luận: "01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, Biển kiểm soát 28H1- 220.44, tình trạng đã qua sử dụng, thời điểm định giá tháng 02/2024, có giá trị 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng).

Cáo trạng số 63/CT-VKS-TPHB ngày 02/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình đã truy tố Lường Văn L về tội “Trộm cắp tài bsản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lường Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình luận tội đối với bị cáo Lường Văn L vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng, đồng thời phân tích các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, nhân thân bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lường Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản". Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lường Văn L mức án từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lường Văn L.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Đào Vũ Xuân H1, chị Vũ Thị D, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không đề cập.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Trả lại cho chị Vũ Thị D một đăng ký xe mô tô mang tên Đinh Thị Thục A. Ngoài ra Viện kiểm sát còn đề nghị về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Truy thu bị cáo số tiền 3.200.000 đồng (ba triệu hai trăm nghìn đồng) để sung quỹ Nhà nước.

Bị hại anh Đào Vũ Xuân H1 quá trình giải quyết vụ án trình bày: Anh đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, Biển kiểm soát 28H1- 220.44 và không có yêu cầu gì thêm đối với bị cáo.

Bị hại Vũ Thị D chưa nhận lại tài sản chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, Biển kiểm soát 30H8-1516 nhưng cũng không yêu u cầu bị cáo phải bồi bồi thường giá trị chiếc xe. Về hình phạt, các bị hại đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Võ Quốc T trình bày: Anh mua chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, Biển kiểm soát 28H1- 220.44 giá 1.500.000 đồng. Khi mua không biết tài sản đó là do bị cáo phạm tội mà có. Anh T không yêu cầu bị cáo Lường Văn L phải trả lại số tiền 1.500.000 đồng.

Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận. Lời nói sau cùng bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại anh Đào Vũ Xuân H1 vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, do đó việc vắng mặt của anh H1 không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Về nội dung vụ án: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lường Văn L đều khai nhận: Do không có tiền để chỉ tiêu cá nhân và chơi game, nên trong khoảng thời gian hai ngày 10/02/2024 và ngày 14/02/2024 tại địa bàn thành phố H, bị cáo đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản là xe mô tô, cụ thể: Xe mô tô Biển kiểm soát 30H8-1516 của chị Vũ Thị D, trị giá 5.000.000 đồng và xe mô tô Biển kiểm soát 28H1-220.44 của anh Đào Vũ Xuân H1, trị giá 7.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 12.000.000 đồng.

[4] Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai người bị hại; vật chứng thu giữ; kết qủa định giá tài sản cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lường Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Trong khoảng thời gian ngắn từ ngày 10/02 đến ngày 14/02/2024 bị cáo đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản, trong đó cả 02 lần giá trị tài sản chiếm đoạt đều trên 2.000.000 đồng. Đây là tình tiết tăng nặng “phạm tội hai lần trở lên” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về nhân thân của bị cáo ngày 25/8/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xử phạt 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, ngày 13/5/2024 bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, thành phố Hà Nội khởi tố về tội trộm cắp tài sản, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, nghiêm khắc sửa đổi bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội. Do đó cần có mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do bị cáo gây ra để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Đối với anh Võ Quốc T là người đã mua xe mô tô từ bị cáo Lường Văn L. Tuy nhiên khi mua anh T không biết là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên không đề cập.

[5]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội hai lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lường Văn L đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Sau khi phạm tội đã ra đầu thú. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại anh Đào Vũ Xuân H1 đã nhận lại tài sản là chiếc Honda Wave, màu trắng, Biển kiểm soát 28H1-220.44. Anh H1 không có yêu cầu gì thêm.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu xám, Biển kiểm soát 30H8-1516 của bị hại chị Vũ Thị D hiện chưa thu giữ được. Tuy nhiên tại phiên tòa chị D cũng không yêu cầu bị cáo phải bồi thường giá trị chiếc xe đã bị chiếm đoạt nên không xem xét.

Đối với anh Võ Quốc T là người đã mua chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, Biển kiểm soát 28H1-220.44, với giá 1.500.000 đồng, khi mua anh không biết đó là tài sản do bị cáo phạm tội mà có. Tại phiên tòa anh T không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại nên không đề cập.

Đối với hai người mua chiếc xe mô tô Biển kiểm soát 30H8- 1516 của bị cáo L là hai người không quen biết, trao đổi mua bán qua mạng xã hội, chiếc điện thoại di động của L khai sau khi dùng để đăng ảnh lên mạng xã hội đã bán cho người khác, hiện không xác minh được tên, tuổi, địa chỉ của hai người này nên Cơ quan điều tra chưa có căn cứ để xử lý là là đúng quy định của pháp luật.

[8] Về vật chứng vụ án:

Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, Biển kiểm soát 28H1- 220.44 đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H trả lại cho chủ sở hữu anh Đào Vũ Xuân H1.

Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu xám, Biển kiểm soát 30H8-1516, của chị Vũ Thị D hiện chưa thu giữ được nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã ra thông báo truy tìm vật chứng.

Đối với chiếc điện thoại di động L dùng để chụp ảnh chiếc xe Honda Lead, sau đó dùng hình ảnh để đăng thông tin bán xe, hiện chiếc điện thoại trên L đã bán cho anh H1 là chủ cửa hàng sửa chữa điện thoại H, sau đó anh H1 đã bán lại cho người khác, không thu giữ được nên không đề cập xử lý.

Đối với một đăng ký mô tô, xe máy số 246973 mang tên Đinh Thị Thục A. Quá trình điều tra chị Vũ Thị D đã giao nộp cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H. Chị D khai gia đình chị mua xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu xám, Biển kiểm soát 30H8-1516 của chị Đinh Thị Thục A nhưng chưa sang tên đổi chủ nên Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho chị Vũ Thị D.

Sau khi chiếm đoạt bị cáo đã bán chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave, màu trắng, Biển kiểm soát 28H1-220.44 cho anh Võ Quốc T số tiền 1.500.000 đồng và bán xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu xám, Biển kiểm soát 30H8-1516 cho một người đàn ông không quen biết số tiền 1.700.000 đồng. Tổng số tiền 3.200.000 đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy đây là số tiền thu lời bất chính, tại phiên tòa bị hại chị Vũ Thị D cũng như người liên quan anh Võ Quốc T không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên cần truy thu bị cáo số tiền này để sung quỹ Nhà nước. Đối với 01 USB nhãn hiệu kingston là chứng cứ của vụ án tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

[9] Về án phí: Bị cáo Lường Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
  2. Tuyên bố: Bị cáo Lường Văn L phạm tội "Trộm cắp tài sản".
  3. Xử phạt: Bị cáo Lường Văn L 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/02/2024.
  4. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Truy thu bị cáo Lường Văn L, số tiền: 3.200.000 đồng (ba triệu hai trăm nghìn đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.

    T1 trả lại cho chị Vũ Thị D một đăng ký mô tô, xe máy số 246973 mang tên Đinh Thị Thục A đang được lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

  5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lường Văn L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hòa Bình;
  • - TAND tỉnh Hòa Bình;
  • - VKSND Tp Hòa Bình;
  • - Công an Tp Hòa Bình;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hòa Bình;
  • - Bị cáo; người TGTT.
  • - THADS Tp Hòa Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

(đã ký)

Bùi Thị Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2024/HS – ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH – TỈNH HÒA BÌNH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 60/2024/HS – ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH – TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lường Văn L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger