|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 60/2024/HS-PT Ngày 24 - 5 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Quỳnh.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga
Bà Trần Thị Mỹ Hải
- Thư ký phiên toà: Ông Lương Văn Hòa - Thư ký, Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 45/2024/TLPT-HS ngày 07 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Xuân T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 02/2024/HSST ngày 12 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Xuân T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 10 tháng 9 năm 1991, tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn N, xã V, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Cao V và bà Nguyễn Thị Đ; có vợ: Nguyễn Thị P và 02 con; con lớn sinh ngày 24/01/2015, con nhỏ sinh ngày 30/10/2023; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/11/2023 đến ngày 25/11/2023 thì được tại ngoại cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
- Ngoài ra còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH MTV T1 không kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Xuân T là nhân viên lái xe của Công ty TNHH một thành viên T1. Vào ngày 14/11/2023, Nguyễn Xuân T điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 12H-006.89 kéo theo rơ mooc biển số 12R-007.02 của công ty chở hàng qua cửa khẩu L, tỉnh Quảng Trị để đi sang nước Lào. Đến khoảng 20 giờ ngày 15/11/2023, Nguyễn Xuân T sau khi trả hàng hóa xong đi từ Lào về Việt Nam, đến khu vực cửa khẩu L, tỉnh Quảng Trị, T nảy sinh ý định mua pháo nổ về sử dụng dịp tết Nguyên Đán. Khi đến khu vực ven đường Q, T gặp một người đàn ông (không biết tên, tuổi, địa chỉ) và hỏi “anh có pháo bán không?” thì người này bảo “có bán pháo loại 49 và loại 36”. Thêm hỏi giá thì người đàn ông trả lời “200.000 đồng một bánh pháo 49 và 180.000 đồng một bánh pháo 36”. Sau khi hỏi giá xong, T mua 11 bánh pháo nổ loại 49 và 02 bánh pháo nổ loại 36 với tổng số tiền 2.560.000 đồng. Thêm kiểm tra đúng pháo nổ rồi thanh toán tiền cho người đàn ông. Số pháo T mua được người đàn ông đóng gói vào 02 thùng cattong. Thêm cất số pháo vừa mua ở cabin xe rồi điều khiển xe về nhà ở tỉnh Thanh Hóa để cất giấu. Đến khoảng 4 giờ ngày 16/11/2023, khi đến khu vực cầu L, Quốc lộ A thuộc khối B, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An, T dừng xe thì bị lực lượng Công an huyện Q, tỉnh Nghệ An phối hợp với Công an thị xã H, tỉnh Nghệ An tiến hành kiểm tra, phát hiện trong khu vực cabin của xe ô tô do T điều khiển có 02 thùng cattong chứa 11 khối hộp, mỗi khối hộp có 49 cọc hình trụ tròn và 02 khối hộp, mỗi khối hộp có 36 cọc hình trụ tròn, bên ngoài dán giấy nhiều màu sắc khác nhau, chữ nước ngoài (nghi là pháo nổ). Lực lượng Công an đã lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng nghi là pháo và tạm giữ xe ô tô đầu kéo do T điều khiển cùng các giấy tờ liên quan đến xe ô tô.
Ngày 16/11/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã H, tỉnh Nghệ An tiến hành mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định: 11 khối hộp, mỗi khối hộp có 49 cọc hình trụ tròn, bên ngoài dán giấy nhiều màu sắc khác nhau, chữ nước ngoài, kích thước (10x17x17)cm có khối lượng 19,4 kg và 02 khối hộp, mỗi khối hộp có 36 cọc hình trụ tròn, bên ngoài dán giấy nhiều màu sắc khác nhau, chữ nước ngoài, kích thước (12,5x15x15)cm có khối lượng 2,8 kg. Tổng 13 khối hộp (nghi là pháo nổ) có khối lượng là 22,2 kg. Đồng thời, tiến hành lấy 01 khối hộp có 49 cọc hình trụ tròn có khối lượng 1,8 kg (ký hiệu M1) và 01 khối hộp có 36 cọc hình trụ tròn có khối lượng 1,4 kg (ký hiệu M2) gửi giám định. Số khối hộp ghi là pháo nổ còn lại được niêm phong theo quy định.
Tại kết luận giám định số 272/KL-KTHS(Đ2-CN) ngày 21/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu vật (ký hiệu M1 và M2) gửi tới giám định đều là pháo và đều thuộc loại pháo nổ.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2024/HSST ngày 12/01/2024 của Toà án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An đã quyết định:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 12 (mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ hàng cấm”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 16/11/2023 đến ngày 25/11/2023.
Đồng thời, Bản án còn xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 22/01/2024, bị cáo Nguyễn Xuân T nộp đơn kháng cáo tại Tòa án: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Xuân T giữ nguyên nội dung kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Căn cứ vào điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân T; sửa một phần quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2024/HS-ST ngày 12/01/2024 của Tòa án nhân dân thị Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An; giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo Nguyễn Xuân T được hưởng án treo.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 12 tháng tù về tội “Tàng trữ hàng cấm” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Bị cáo Nguyễn Xuân T không tranh luận với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Thủ tục tố tụng: Bị cáo Nguyễn Xuân T nộp đơn kháng cáo trong hạn luật định, nội dung đơn kháng cáo đúng quy định của pháp luật nên kháng cáo hợp lệ. Tòa án cấp phúc thẩm tiến hành xét xử vụ án.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Xuân T khai và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như Bản án sơ thẩm đã xét xử, theo đó: Vào lúc 04 giờ, ngày 16/11/2023, trên đường Q thuộc khối B, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An, Công an huyện Q, tỉnh Nghệ An phối hợp với Công an thị xã H, tỉnh Nghệ An bắt quả tang Nguyễn Xuân T cất giấu 13 hộp khối pháo nổ, có tổng khối lượng 22,2 kg tại cabin khu vực lái của xe ô tô đầu kéo biển số 12H-006.89 kéo theo rơ mooc biển số 12R-007.02 do T điều khiển nhằm mục đích sử dụng.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã có hành vi cất giấu trái phép hàng cấm là pháo nổ trong Cabin xe ô tô để tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng nhằm mục đích đưa pháo nổ về nhà sử dụng vào dịp Tết nguyên đán. Tại khoản 1 Điều 5 Nghị định 137/2020/NĐ-CP ngày 27/11/2020 của Chính phủ quy định về quản lý, sử dụng pháo: Các hành vi bị nghiêm cấm; Nghiên cứu, chế tạo, sản xuất, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc chiếm đoạt pháo nổ;
Hành vi cất giấu trái phép hàng cấm là pháo nổ do bị cáo thực hiện bị pháp luật nghiêm cấm. Hành vi đó đã xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Mặc dù bị cáo nhận thức được Nhà nước cấm mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép pháo nổ dưới mọi hình thức, nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện tội phạm. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ hành vi phạm tội, tính chất, mức độ, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 12 tháng tù về tội “Tàng trữ hàng cấm”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, nghiêm minh.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định: Theo quy định tại khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015; 1. Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các Điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm;
c) Pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;
Đối chiếu quy định của pháp luật với hành vi phạm tội của bị cáo thấy, bị cáo có hành vi tàng trữ hàng cấm là pháo nổ 22,2 kilôgam, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 12 tháng tù là đúng quy định của pháp luật, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm đối với loại tội phạm này, nên không có căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[4] Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định:
Tại Tòa án cấp phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Xuân T nộp đơn trình bày xin được hưởng án treo và cải tạo tại địa phương, có xác nhận của Ban cán sự thôn N và Ủy ban nhân dân xã V, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Theo đơn trình bày: Ngoài lần phạm tội lần này bị cáo luôn chấp hành tốt đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các quy định của địa phương. Bị cáo có nhiều đóng góp, ủng hộ quỹ vì người nghèo và quỹ phòng chống dịch Covid-19 tại địa phương. Bị cáo là lao động chính trong gia đình, vợ mới sinh con thứ hai còn nhỏ. Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Căn cứ vào Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị Quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo thì có đủ căn cứ cho bị cáo Nguyễn Xuân T được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên toà là phù hợp, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[5] Án phí: Bị cáo Nguyễn Xuân T kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[6] Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân T, sửa một phần quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2024/HS-ST ngày 12/01/2024 của Tòa án nhân dân thị Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An; giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo Nguyễn Xuân T được hưởng án treo.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 12 (mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ hàng cấm” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Xuân T cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Người được hưởng án treo có thể bị Tòa án buộc chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo nếu đang trong thời gian thử thách mà cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên.
Bị cáo Nguyễn Xuân T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2024/HSST ngày 12/01/2024 của Toà án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Quỳnh |
Bản án số 60/2024/HS-PT ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ hàng cấm
- Số bản án: 60/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ hàng cấm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Xuân T phạm tội "Tàng trữ hàng cấm"
