TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 60/2024/HNGĐ-ST
Ngày 24-4-2024
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyên.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Tú Nhi;
Bà Hoàng Lệ Chi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Việt Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 35/2024/TLST-HNGĐ ngày 19/01/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 58/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/3/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Huỳnh H, sinh năm 1990. Thường trú: số 398/34, ấp B, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre. Địa chỉ liên hệ: số C, đường N, khu phố C, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Từ Trung T, sinh năm 1985. Thường trú: số 158/35/53, đường V, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, vắng mặt không rõ lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 09 tháng 01 năm 2024, lời khai trong quá trình tổ tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Huỳnh H trình bày:
Bà Huỳnh Thị Huỳnh H và ông Từ Trung T tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2014, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 11/9/2014 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 123, quyển số 01 ngày 11/9/2014. Thời gian đầu hạnh phúc, đến tháng 01/2020 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra tranh cãi, ông T sống không có trách nhiệm với vợ con, thường xuyên tổ chức uống rượu bia với bạn bè, khi đi uống rượu bia về nhà thì chửi bới, xúc phạm vợ con. Ông T lười lao động, không chịu đi làm để kiếm thu nhập để nuôi con, lo cho gia đình, một mình bà H phải đi làm kiếm tiền lo toan mọi thứ trong gia đình. Hai vợ chồng thường xuyên xảy ra tranh cãi, mâu thuẫn, khi mâu thuẫn xảy ra hai vợ chồng đã tìm cách giải quyết mâu thuẫn, bà H đã cố gắng hàn gắn quan hệ hôn nhân nhưng không có kết quả; hai bên gia đình không có ý kiến, để hai vợ chồng tự quyết định. Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là cháu Từ Bảo T1, sinh ngày 02/01/2015 và cháu Từ Bảo T2, sinh ngày 10/7/2017. Hiện nay, 02 vợ chồng và các con đang thuê phòng trọ tại địa chỉ: số C, đường N, khu phố C, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Bà H đang làm Spa tại thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thu nhập khoảng 12.000.000 đồng/tháng nên bà H1 đủ khả năng chăm sóc cho 02 con phát triển bình thường. Nay, bà H không còn tình cảm gì đối với ông T, hai vợ chồng không còn quan hệ vợ chồng, không quan tâm đến cuộc sống của nhau.
Vì vậy, bà Huỳnh Thị Huỳnh H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về quan hệ hôn nhân: yêu cầu được ly hôn với ông Từ Trung T.
- Về con chung: Bà Huỳnh Thị Huỳnh H yêu cầu được nuôi con chung là cháu Từ Bảo T1, sinh ngày 02/01/2015 và cháu Từ Bảo T2, sinh ngày 10/7/2017, không yêu cầu ông Từ Trung T phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình tố tụng bị đơn ông Từ Trung T trình bày: Ông T thống nhất với lời trình bày của bà H về quá trình chung sống, cũng như về con chung và việc có đăng ký kết hôn. Bị đơn không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì bị đơn vẫn rất thương vợ thương con. Bị đơn thừa nhận nhiều lúc trong lúc nóng giận có những lời lẽ xúc phạm đến vợ, tuy nhiên bị đơn mong muốn Toà án cho bị đơn thêm thời gian để hai vợ chồng đoàn tụ cùng chăm lo cho con cái.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng, đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định; không kiến nghị khắc phục, bổ sung các thủ tục tố tụng. Quan hệ pháp luật là ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được Hội đồng xét xử làm rõ tại phiên tòa nhận thấy mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông T là trầm trọng, không hàn gắn đoàn tụ được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Huỳnh H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Huỳnh H khởi kiện tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với bị đơn ông Từ Trung T, sinh năm 1985, thường trú: số A, đường V, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương nên căn cứ theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương; quan hệ pháp luật tranh chấp là “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
[2] Bị đơn ông Từ Trung T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Từ Trung T.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 11/9/2014 và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 123, quyển số 01 ngày 11/9/2014 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Bà H xác định quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Xét thấy, mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc; để đạt được mục đích đó vợ chồng cần phải thương yêu, tin tưởng, quý trọng, chăm sóc, cùng nhau vun đắp, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Đây cũng là nghĩa vụ của vợ, chồng được quy định tại Điều 19, Điều 21 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Ông T không đồng ý ly hôn nhưng không đưa ra được giải pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng, bà H kiên quyết xin ly hôn. Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông T đã trầm trọng nên việc bà H yêu cầu ly hôn với ông T là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
[4] Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là cháu Từ Bảo T1, sinh ngày 02/01/2015 và cháu Từ Bảo T2, sinh ngày 10/7/2017. Bà H yêu cầu được nuôi 02 con chung là cháu T1 và cháu T2, không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, bà H có việc làm, có thu nhập ổn định đảm bảo đủ điều kiện để nuôi dưỡng cháu T1 và cháu T2 phát triển bình thường, ngoài ra, cháu T1 đã đủ 07 tuổi có nguyện vọng sống chung với bà H. Do vậy, Hội đồng xét xử giao cháu T1 và cháu T2 cho bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[6] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
[7] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và các Điều 227, 228, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Huỳnh H đối với bị đơn ông Từ Trung T về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Huỳnh H được ly hôn với ông Từ Trung T (Giấy chứng nhận kết hôn số 123, quyển số 01 ngày 11/9/2014 do Ủy ban nhân dân xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 11/9/2014).
- Về con chung: Giao con chung cháu Từ Bảo T1, sinh ngày 02/01/2015 và cháu Từ Bảo T2, sinh ngày 10/7/2017 cho bà Huỳnh Thị Huỳnh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, ông Từ Trung T không phải cấp dưỡng nuôi cháu Từ Bảo T1 và cháu Từ Bảo T2.
Hai bên đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị Huỳnh H phải chịu 300.000 đồng được khấu trừ 300.000 đồng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001567 ngày 18 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Tuyên |
Bản án số 60/2024/HNGĐ-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 60/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn nuôi con giữa nguyên đơn bà Huỳnh Thị Huỳnh H - bị đơn Từ Trung T
