|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 60/2024/KDTM-ST
Ngày: 23/9/2024
V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Trung Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Tô Văn Nhung;
- Bà Nguyễn Thị Kim Hoa.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Việt Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy An - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 87/2024/TLST- KDTM ngày 11 tháng 7 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2024/QĐXXST-KDTM ngày 13 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 58/2024/QÐST-KDTM ngày 30/8/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty TNHH V; địa chỉ: Số C, Đường D, khu dân cư V, khu phố D, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: ông Trần Minh T, sinh năm 1993; địa chỉ: Số A đường D, khu G, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương và bà Võ Thị Bích T1, sinh năm 1994; địa chỉ: Số C, Đường D, khu dân cư V, khu phố D, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền;
Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Bị đơn: Công ty TNHH T3; địa chỉ: Số C, đường N, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Thanh T2, sinh năm 1986; thường trú: Số C, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo pháp luật, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện nộp ngày 01 tháng 7 năm 2024, trong quá trình tham gia tố tụng, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Công ty TNHH V trình bày:
Vào các ngày 06/09 và 09/09 năm 2023 Công ty TNHH V (sau đây gọi tắt là Công ty V) và Công ty TNHH T3 (sau đây gọi tắt là Công ty T3) có giao kết 2 hợp đồng kinh tế số VH-TS/2023-002/HĐKT và VH-TS/2023-003/HĐKT. Theo nội dung của 2 hợp đồng trên thì Công ty V sẽ bán cho Công ty T3 sản phẩm là gỗ thông xẻ theo Hợp đồng kinh tế số VH-TS/2023-002/HĐKT: ghi nhận số gỗ thông xẻ giao dịch trị giá 2.986.065.000 đồng (hai tỷ chín trăm tám mươi sáu triệu không trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) đã bao gồm VAT (8%) và Hợp đồng kinh tế số VH-TS/2023-003/HĐKT: ghi nhận số gỗ thông xẻ giao dịch trị giá 3.556.440.000 đồng (ba tỷ năm trăm năm mươi sáu triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng) đã bao gồm VAT (8%).
Thực hiện theo hợp đồng ngày 27/09 và ngày 29/09 năm 2023, Công ty V đã xuất lần lượt hai hóa đơn ký hiệu 1C23TAA số 193 và số 195, có giá trị lần lượt là 2.986.065.000 đồng và 3.556.440.000 đồng và gửi cho Công ty T3.
Quá trình giao hàng Công ty V đã giao số lượng hàng hóa cho Công ty T3 – theo các biên bản giao nhận hàng từ ngày 02/10/2023 đến 24/11/2013 với tổng khối lượng 674,38m³, với đơn giá 5.000.000 đồng/m³, thành tiền 3.371.900.000 đồng và tiền thuế VAT 269.752.000 đồng. Tuy nhiên do có làm ăn qua lại trước đây nên Công ty V chỉ tính tổng số tiền hàng là 3.300.275.078 đồng (ba tỷ ba trăm triệu hai trăm bảy mươi lăm nghìn không trăm bảy mươi tám đồng) và tiền thuế VAT là 264.022.006 đồng (hai trăm sáu mươi bốn triệu không trăm hai mươi hai nghìn không trăm lẻ sáu đồng). Tổng cộng là 3.564.297.084 đồng (ba tỷ năm trăm sáu mươi bốn triệu hai trăm chín mươi bảy nghìn không trăm sáu mươi bốn đồng). Công ty T3 cũng xác nhận đã nhận đầy đủ số hàng hóa trên và không có ý kiến gì về chất lượng hàng hóa.
Công ty T3 đã thanh toán cho Công ty V số tiền hàng trên vào các ngày 15/12/2023 chuyển khoản 272.695.200 đồng trong đó thanh toán nợ trước đó 160.227.600 đồng, còn lại 112.737.600 đồng thanh toán cho hóa đơn 193; ngày 09/01/2024 thanh toán 150.000.000 đồng; ngày 19/3/2024 thanh toán 900.000.000 đồng; ngày 03/8/2024 thanh toán 100.000.000 đồng; ngày 10/9/2023 thanh toán 50.000.000 đồng. Tổng số tiền Công ty T3 đã thanh toán cho Công ty V theo hóa đơn 193, 195 là 1.312.737.600 đồng. Sau đó công ty T3 không thanh toán tiếp cho Công ty V.
Nguyên đơn Công ty TNHH V khởi kiện yêu cầu buộc Công ty TNHH T3 thanh toán đầy đủ số tiền 2.251.559.484 đồng (hai tỷ hai trăm năm mươi mốt triệu năm trăm năm mươi chín nghìn bốn trăm tám mươi bốn đồng) và không yêu cầu lãi suất.
* Đối với bị đơn Công ty TNHH T3:
Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự để đại diện hợp pháp của bị đơn Công ty TNHH T3 tham gia giải quyết vụ án nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Đồng thời, Tòa án đã yêu cầu Công ty TNHH T3 cung cấp tài liệu chứng cứ cũng như có ý kiến trả lời bằng văn bản đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng Công ty TNHH T3 không có ý kiến.
* Tại văn bản số 1354/ĐKKD ngày 30/7/2024 Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh B cung cấp thông tin: Công ty TNHH T3, mã số doanh nghiệp C; đăng ký lần đầu ngày 24/11/2021, đăng ký thay đổi lần thứ 2 ngày 15/3/2023; địa chỉ trụ sở chính: Số C đường N, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương; Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh T2, sinh ngày 14/8/1986, Căn cước công dân số: [...], ngày cấp 30/3/2021, nơi cấp Cục quản lý hành chính về trật tự xã hội; Chức danh: Chủ tịch kiêm giám đốc. Tình trạng pháp lý: Đang hoạt động.
* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được pháp luật quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng, đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định. Bị đơn đã được triệp tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, không chấp hành đúng pháp luật tố tụng. Không kiến nghị khắc phục, bổ sung về thủ tục tố tụng.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ được Hội đồng xét xử xem xét và thẩm tra công khai tại phiên tòa cho thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH V là có căn cứ chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Từ những tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn Công ty TNHH V khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH T3 yêu cầu thanh toán khoản nợ theo phiếu giao hàng từ ngày 02/10/2023 đến ngày 24/11/2023 và hóa đơn giá trị gia tăng 193 ngày 27/9/2023 và 195 ngày 29/9/2023. Do đó, quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định là “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”. Bị đơn Công ty TNHH T3 có địa chỉ trụ sở tại khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm
quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo quy định tại các Điều 30, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Công ty TNHH V có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn Công ty TNHH T3 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa vào các ngày 30/8/2024 và ngày 23/9/2024 nhưng đều vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.
[1.3] Quá trình tố tụng, Tòa án đã thông báo cho bị đơn cung cấp chứng cứ theo Thông báo yêu cầu cung cấp chứng cứ số 87/TB-TA ngày 22/7/2024 nhưng bị đơn không thực hiện mà không có lý do chính đáng nên căn cứ Điều 96 Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp và Tòa án đã thu thập để giải quyết vụ án kinh doanh thương mại.
[2] Về nội dung: Ngày 06/9 và 09/9/2023, Công ty V và Công ty T3 ký kết “Hợp đồng kinh tế” số: VH-TS/2023-002/HĐKT và VH-TS/2023-003/HĐKT. Theo đó, Công ty T3 đặt mua hàng hóa là gỗ thông từ Công ty V. Thực hiện hợp đồng ngày 06/9 và 09/9/2023, Công ty V bán cho Công ty T3 lô gỗ thông với số lượng và chủng loại cụ thể tại các phiếu giao hàng từ ngày 02/10/2023 đến ngày 24/11/2023.
Xét thấy Hợp đồng kinh tế giữa Công ty V và Công ty T3 được lập thành văn bản là tự nguyện, không trái pháp luật, không vi phạm đạo đức xã hội nên có hiệu lực bắt buộc và các bên phải thực hiện.
[3] Nguyên đơn Công ty V yêu cầu Tòa án xem xét buộc Công ty T3 phải thanh toán số tiền còn lại 2.251.559.484 đồng (hai tỷ hai trăm năm mươi mốt triệu năm trăm năm mươi chín nghìn bốn trăm tám mươi bốn đồng).
Hội đồng xét xử nhận thấy: Công ty V đã giao số hàng theo phiếu giao hàng ngày 02/10/2023 là 53,519m³; ngày 03/10/2023 là 51,611m³; ngày 04/10/2023 là 52,632m³; ngày 07/10/2023 là 51,507m³; ngày 11/10/2023 là 53,296m³; ngày 23/10/2023 là 107,461m³; ngày 26/10/2023 là 47,544m³; ngày 26/10/2023 là 53,087m³; ngày 30/10/2023 là 103,976m³; ngày 02/11/2023 là 45,779m³; ngày 24/11/2023 là 53,97m³. Tổng khối lượng hàng hóa công ty V đã giao cho công ty T3 là 674,38m³, với đơn giá 5.000.000 đồng/m³; thành tiền 3.641.652.000 đồng (bao gồm 8% thuế VAT). Công ty V đã xuất hóa đơn 193 ngày 27/9/2023 và 195 ngày 29/9/2023. Theo quy định tại Điều 2 Hợp đồng VH-TS/2023-002/HĐKT và Hợp đồng số VH-TS/2023-003/HĐKT thỏa thuận thời gian thanh toán “Bên B sẽ thanh toán trong vòng 30 ngày sau khi nhận được hóa đơn GTGT”. Sau khi Công ty V giao hàng, Công ty T3 không có ý kiến gì về chất lượng và số lượng hàng hóa, bên cạnh đó cũng tiến hành thanh toán cho Công ty V số tiền hàng cụ thể ngày ngày 15/12/2023 trả 272.695.200 đồng (trong đó 160.227.600 đồng là tiền nợ của hóa đơn 191 ngày 26/9/2023); ngày 09/01/2024 trả 150.000.000 đồng; ngày 19/3/2024 trả 450.000.000 đồng; ngày 19/3/2024 trả 450.000.000 đồng; ngày 03/8/2024 trả 100.000.000 đồng; ngày 10/9/2024 trả 50.000.000 đồng. Tổng số tiền Công ty T3 đã thanh toán là
1.312.737.600 đồng, số tiền Công ty T3 còn thiếu là 2.328.914.400 đồng. Tuy nhiên, Công ty V chỉ yêu cầu thanh toán số tiền 2.251.559.484 đồng nên Hội đồng xét xử xem xét trên số tiền Công ty V yêu cầu. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số nợ: 2.251.559.484 đồng là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 50, 55 Luật Thương mại 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2019.
[4] Về tiền lãi chậm thanh toán: Nguyên đơn không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
[5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung vụ án, các thủ tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên tòa là phù hợp quy định của pháp luật.
[6] Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Bị đơn Công ty TNHH T3 phải chịu án phí đối với số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn Công ty TNHH V.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 30, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Khoản 1 Điều 440 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 24, 50, 55 Luật Thương mại;
Điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” của nguyên đơn Công ty TNHH V với bị đơn Công ty TNHH T3.
Công ty TNHH T3 phải thanh toán cho Công ty TNHH V số tiền mua hàng hóa còn nợ là 2.251.559.484 đồng (hai tỷ hai trăm năm mươi mốt triệu năm trăm năm mươi chín nghìn bốn trăm tám mươi bốn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Bị đơn Công ty TNHH T3 phải chịu 77.031.190 đồng (bảy mươi bảy triệu không trăm ba mươi mốt nghìn một trăm chín mươi đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Hoàn trả cho Công ty TNHH V số tiền 48.513.567 đồng (bốn mươi tám triệu năm trăm mười ba nghìn năm trăm sáu mươi bảy đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001183 ngày 11 tháng 7 năm 2024.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự; người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Thị Trung Hiếu |
Bản án số 60/2024/KDTM-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Số bản án: 60/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa công ty TNHH Việt Nam Việt Hưng - Công ty TNHH TM DV SX Thanh Sơn
