|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP TỈNH SƠN LA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 60/2024/HS-ST Ngày: 23 - 9 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓP CỘP, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kỳ Việt.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vừ Vả Chứ, bà Cầm Thị Quyến.
Thư ký phiên tòa: Bà Tòng Thị Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 60/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Lò Văn C; tên gọi khác: Không có; sinh năm 1996 tại huyện S, tỉnh Sơn La; số định danh cá nhân: 014096003446; nơi cư trú: Bản H, xã D, huyện S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn T (Đã chết) và bà Lò Thị L (Đã chết); bị cáo có vợ là Lò Thị H, sinh năm 1999 và có 02 con (Lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2017); tiền án: không; tiền sự: Ngày 13/9/2023 bị Kiểm lâm huyện S, tỉnh Sơn La xử phạt hành chính (Phạt tiền 8.000.000 đồng) về hành vi phá rừng trái phép. Trong vụ án này bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/5/2024 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
* Nguyên đơn dân sự: UBND xã D, huyện S do ông Cầm Văn V – Phó chủ tịch UBND xã là người đại diện theo uỷ quyền (Vắng mặt có lý do).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên:
- - Anh Lò Văn C1; sinh năm 1988; nơi cư trú: Bản H, xã D, huyện S, tỉnh Sơn La (Có mặt).
- - Chị Lò Thị H, sinh năm 1999; nơi cư trú: Bản H, xã D, huyện S, tỉnh Sơn La (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng cuối tháng 12/2023, Lò Văn C, sinh năm 1996, trú tại bản Huổi Dồm, xã D, huyện S nhờ ông Lò Văn C1, sinh năm 1981 trú cùng bản (Bố vợ của C) đi phát rừng Huổi T1 là rừng sản xuất do Ủy ban nhân dân xã D, huyện S được giao quản lý, bảo vệ tiếp giáp với đất nương của gia đình C thuộc bản H, xã D, huyện S với mục đích để làm nương. Lò Văn C và Lò Văn C1 chặt, phá cây trên khu rừng nêu trên trong 02 ngày, quá trình thực hiện Lò Văn C sử dụng 01 chiếc rìu để chặt, hạ các cây gỗ có đường kính từ 10 - 20 cm, còn Lò Văn C1 dùng 01 con dao quắm để chặt, phát các cây nhỏ và bụi cây thân mềm, tán thấp. Đến khoảng cuối tháng 01/2024, C mượn 01 máy cưa xích của anh Lò Văn C1, sinh năm 1988 trú cùng bản (Anh họ của C) để cắt những cây gỗ mà C đã chặt hạ trước đó. Đến khoảng tháng 02/2024, C một mình đến dọn dẹp, gom các cành cây chặt hạ trước đó đã khô lại với nhau rồi châm lửa đốt. Việc chặt, phát cây tại khu rừng nêu trên do C chủ động thực hiện. Đến ngày 25/3/2024, tổ công tác Công an xã D phối hợp với Ủy ban nhân dân xã D, Cán bộ Hạt Kiểm lâm huyện S phụ trách địa bàn xã D và ban Q, xã D đã phát hiện hành vi chặt, phá rừng của Lò Văn C và Lò Văn C1. Kết quả xác minh ban đầu C và C1 đã khai nhận toàn bộ hành vi chặt phá rừng, đồng thời cùng tổ công tác chứng kiến việc đo đạc, kiểm đếm xác định sơ bộ diện tích rừng đã chặt, phá. Lò Văn C tự nguyện giao nộp 01 con dao quắm dài 47cm, 01 chiếc rìu dài 34cm, 01 máy cưa xăng nhãn hiệu Husqvarana special 365 và 01 lam cưa dài 85cm.
Ngày 31/3/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện S đã phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, H huyện S, UBND xã D, Công an xã D và Ban quản lý bản Huổi Dồm, xã D tiến hành khám nghiệm hiện trường, xác định: Vị trí khu vực rừng Lò Văn C đã chặt phá thuộc Tiểu khu G, khoảnh 1, lô 9, rừng sản xuất, thuộc bản H, xã D, huyện S. Sử dụng máy GPS GARMIN 78s để đo đạc diện tích rừng bị chặt, phá là 1.042,5m² với khối lượng lâm sản bị thiệt hại là 26 cây có tổng khối lượng 2,117m³ gỗ tròn.
Tại Kết luận giám định tư pháp trong lĩnh vực Lâm nghiệp số: 05-2024/KL/GĐCN, ngày 13/4/2024 của Chi cục Kiểm lâm tỉnh S, kết luận:
“Xác định vị trí rừng bị chặt phá
- Loại rừng, vị trí rừng: Theo dữ liệu bản đồ kiểm kê rừng năm 2016 xã D, vị trí có cây bị chặt phát thuộc lô I, khoảnh 1, tiểu khu G, xã D, huyện S, tỉnh Sơn La, là rừng sản xuất. Theo dữ liệu bản đồ rà soát, điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng đã được UBND tỉnh S phê duyệt tại Quyết định số 3248/QĐ-UBND ngày 27/12/2018 thuộc lô 9 (lô quy hoạch là lô 8), khoảnh 1, tiểu khu G, xã D, quy hoạch là rừng sản xuất.
- Chủ rừng: Theo Quyết định số 3248/QĐ-UBND ngày 27/12/2018 của UBND huyện S tạm giao cho UBND xã D quản lý.
- Trạng thái rừng: Đối chiếu ranh giới khu vực có cây bị chặt phá đã được xác định bằng máy định vị GPS và số hóa bằng phần mềm GPS với dữ liệu bản đồ theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp huyện S năm 2023; diện tích có cây bị chặt phá có trạng thái rừng gỗ tự nhiên lá rộng thường xanh nghèo - TXN.
Xác định loại gỗ, nhóm gỗ
Căn cứ nội dung yêu cầu giám định, kết quả quan sát trực tiếp đối tượng giám định, đối chiếu nội dung hồ sơ, thông tin, tài liệu đã được cung cấp với quy định cụ thể tại các văn bản quy phạm pháp luật nêu trên và tài liệu có liên quan. Giám định viên kết luận: 26 cây bị phát, chặt (trong tài liệu bên trưng cầu cung cấp được ký hiệu từ số 01 đến số 26, có ghi tổng khối lượng 2,117 m³ gỗ tròn) đều là gỗ thông thường; gỗ không nằm trong Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ kèm theo Nghị định số 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ; gỗ không nằm trong Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm kèm theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ”.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 19/KL-HĐĐG ngày 01/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc UBND huyện S kết luận: “Tổng giá trị rừng bị chặt phá có diện tích 1.042,5m², thuộc bản H, xã D, huyện S là rừng sản xuất, trạng thái rừng gỗ tự nhiên lá rộng thường xanh nghèo –TXN bị thiệt hại là 14.181.180 đồng”.
Quá trình điều tra bị can Lò Văn C thừa nhận ngày 13/9/2023 bị Hạt Kiểm lâm huyện S, tỉnh Sơn La xử phạt hành chính (Phạt tiền 8.000.000 đồng) về hành vi phá rừng trái pháp luật (Ngày nộp tiền 29/3/2024). Tháng 12/2023 tiếp tục thực hiện hành vi chặt phá 1.042,5m² rừng sản xuất.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 08/7/2024 ông Cầm Văn V – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã D là đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn dân sự đề nghị bị can Lò Văn C bồi thường dân sự, theo Kết luận định giá tài sản đối với giá trị 1.042,5m² rừng sản xuất bị chặt phá là 14.181.180 đồng. Ngày 01/8/2024 vợ bị can đã giao nộp số tiền 2.117.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sốp Cộp để bồi thường khắc phục hậu quả.
Cáo trạng số 47/CT - VKSSC ngày 22/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La: Đề nghị truy tố bị can Lò Văn C về tội Huỷ hoại rừng, theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 243 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, giữ quan điểm truy tố bị cáo về tội Huỷ hoại rừng.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 1 Điều 243; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự;
- - Tuyên bố bị cáo Lò Văn C phạm tội Huỷ hoại rừng.
- - Xử phạt bị cáo Lò Văn C từ 16 đến 20 tháng cải tạo không giam giữ.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) và khấu trừ thu nhập theo quy định tại khoản 4 Điều 243 và khoản 3 Điều 36 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho nhà nước số giá trị 1.042,5m² rừng sản xuất bị chặt phá là 14.181.180 đồng. Khấu trừ 2.117.000 đồng vợ bị cáo tự nguyện giao nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sốp Cộp, thì bị cáo còn phải bồi thường số còn lại là 12.064.000 đồng.
Xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự;
- - Tuyên tịch thu tiêu huỷ: 01 chiếc rìu dài 34cm và 01 con dao quắm dài 47cm.
- - Tuyên trả lại cho người có quyền lợi liên quan anh Lò Văn C1: 01 máy cưa xăng, nhãn hiệu Husqvarna; 01 lam cưa dài 85cm.
- - Chấp nhận việc cơ quan Điều tra bàn giao số vật chứng là 26 khúc, đoạn cây gỗ bị cáo chặt phá tại hiện trường cho Ủy ban nhân dân xã D, huyện S để quản lý, do vật chứng cồng kềnh, khó vận chuyển về trung tâm huyện.
Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- - Buộc bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và dân sự sơ thẩm là 603.000 đồng.
Tại phiên tòa:
- - Bị cáo có ý kiến: Thừa nhận ngày 13/9/2023 bị Hạt Kiểm lâm huyện S, tỉnh Sơn La xử phạt hành chính (Phạt tiền 8.000.000 đồng) về hành vi phá rừng trái pháp luật (Ngày nộp tiền 29/3/2024). Tháng 12/2023 tiếp tục thực hiện hành vi cùng với bố vợ (Lò Văn C1) chặt phá 1.042,5m² rừng sản xuất như Cáo trạng truy tố. Nay bị cáo đã nhận thức lỗi lầm. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét việc bị cáo thành khẩn khai nhận tội; đã nhờ vợ nộp một khoản tiền để bồi thường khắc phục hậu quả; gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn về kinh tế; mục đích chặt phá rừng là để lấy đất trồng ngô, lúa mà giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
- - Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà công bố ý kiến của nguyên đơn dân sự - Ông Cầm Văn V – Phó chủ tịch UBND xã D là người đại diện theo uỷ quyền có nội dung: Yêu cầu bị cáo bồi thường cho nhà nước giá trị 1.042,5m² rừng sản xuất bị chặt phá là 14.181.180 đồng.
- - Người có quyền lợi liên quan anh Lò Văn C1 có ý kiến: Việc bị cáo mượn cưa máy sau tự ý sử dụng vào việc huỷ hoại rừng anh không biết. Do đó đề nghị HĐXX trả lại chiếc cưa máy cho anh.
- - Người có quyền lợi liên quan chị Lò Thị H (Vợ bị cáo) có ý kiến: Số tiền 2.117.000 đồng chị nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sốp Cộp ngày 01/8/2024 là tài sản chung của vợ chồng. Chị tự nguyện giao nộp để bồi thường khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, chị không yêu cầu bị cáo phải trả lại cho chị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, nguyên đơn dân sự và người có quyền lợi liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp. Tại phiên toà nguyên đơn dân sự có đơn xin vắng mặt, Hội đồng xét xử xét thấy không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng Hình sự để xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về hành vi phạm tội theo Cáo trạng truy tố đối với bị cáo: Tại phiên toà bị cáo khai nhận ngày 13/9/2023 bị Hạt Kiểm lâm huyện S, tỉnh Sơn La xử phạt hành chính (Phạt tiền 8.000.000 đồng) về hành vi phá rừng trái pháp luật (Ngày nộp tiền 29/3/2024). Tháng 12/2023 tiếp tục thực hiện hành vi rủ bố vợ là Lò Văn C1 chặt phá 1.042,5m² rừng sản xuất với mục đích lấy đất trồng ngô, lúa. Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra; phù hợp vật chứng thu giữ (Dao quắm, cưa máy, rìu); bản ảnh hiện trường; kết luận giám định trong lĩnh vực lâm nghiệp cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở đó đủ căn cứ kết luận bị cáo Lò Văn C đã phạm vào tội huỷ hoại rừng, theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 243 Bộ luật Hình sự. Như quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Điều 243 Bộ luật hình sự quy định: Tội huỷ hoại rừng.
“1. Người nào đốt, phá rừng trái phép hoặc có hành vi khác huỷ hoại rừng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
- a,
- b) Rừng sản xuất có diện tích từ 5.000 mét vuông (m²) đến dưới 10.000 mét vuông (m²);
- g) Diện tích rừng hoặc giá trị lâm sản dưới mức quy định tại một trong các điểm a, b, c, d, đ và e khoản này nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích ma còn vi phạm.
....
4. Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”.
[4] Xét hành vi chặt, phá trái phép 1.042,5m² rừng sản xuất của bị cáo mặc dù diện tích không lớn, giá trị lâm sản bị xâm hại không nhiều. Tuy nhiên do trước bị cáo đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi chặt phá rừng nên thể hiện thái độ coi thường pháp luật của bị cáo đối với trật tự quản lý nhà nước về môi trường sinh thái, gây ra những hậu quả nghiêm trọng khác như hạn hán, lũ lụt ... tác động tiêu cực đến môi trường sống của con người. Do đó cần áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tích chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 243 Bộ luật Hình sự với mục đích trừng trị, răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng bị áp dụng.
- - Tình tiết giảm nhẹ: Nguyên nhân, hoàn cảnh dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo có một phần do đặc thù người dân miền núi duy nhất có nghề trồng ngô, lúa để nuôi sống gia đình và bản thân trong khi quỹ đất sản xuất của hộ gia đình không nhiều; quá trình điều tra cũng như tại phiên toà đã thành khẩn khai nhận tội; đã bồi thường khắc phục một phần thiệt hại; có ông ngoại (Lò Văn P) được Chủ tịch nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất, bà ngoại (Lò Thị L1) được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba. Do đó được xem xét áp dụng là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng ngược lại có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; động cơ phạm tội đơn giản để lấy đất sản xuất; có khả năng tự cải tạo bản thân. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, theo quy định tại Điều 36 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Về khấu trừ thu nhập xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng.
[7] Đối với hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 4 Điều 243 Bộ luật Hình sự. Xét bị cáo không có tài sản để thi hành nên Hội đồng xét xử không áp dụng.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Hành vi phạm tội của bị cáo xâm hại đến tài sản của nhà nước. Do vậy theo quy định tại khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586 và Điều 589 Bộ luật dân sự; bị cáo phải bồi thường. Cụ thể toàn bộ giá trị 1.042,5m² rừng sản xuất theo kết quả định giá là 14.181.180 đồng, tuy nhiên do vợ bị cáo đã tự nguyện giao nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự số tiền 2.117.000 đồng nên bị cáo còn phải bồi thường số còn lại là 12.064.000 đồng.
[9] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 chiếc rìu và 01 con dao quắm bị cáo và Lò Văn C1 (Bố vợ) sử dụng chặt, phá rừng, không còn nhiều giá trị sử dụng. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; để tuyên tịch thu tiêu huỷ.
- - Đối với chiếc cưa máy bị cáo mượn của anh Lò Văn C1 (Anh họ) sau đó tự ý sử dụng vào việc phạm tội anh C1 không biết, không có lỗi. Cần áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; tuyên trả lại cho anh Lò Văn C1.
- - Đối với 26 khúc, đoạn cây gỗ bị cáo chặt phá tại hiện trường, do là vật chứng cồng kềnh, khó vận chuyển trên địa hình đồi núi. Nên Cơ quan điều tra Công an huyện S đã giao số vật chứng nêu trên cho Ủy ban nhân dân xã D, huyện S để quản lý, bảo vệ. Xét là có căn cứ chấp nhận.
[10] Đối với hành vi chặt, phá rừng của ông Lò Văn C1, sinh năm 1981 (Bố vợ bị cáo). Kết quả điều tra xác định diện tích rừng sản xuất ông C1 tham gia chặt phá dưới mức 5000m²; bản thân ông C1 chưa có tiền án, tiền sự. Do đó không đặt ra vấn đề xử lý hình sự và Cơ quan CSĐT Công an huyện S đã chuyển hồ sơ đến Công an huyện S để xử lý hành chính là có căn cứ.
[11] Án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[12] Bị cáo; nguyên đơn dân sự và người có quyền lợi liên quan được quyền kháng cáo bản án, theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm g khoản 1 Điều 243; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự;
- - Tuyên bố bị cáo Lò Văn C phạm tội Huỷ hoại rừng. Xử phạt bị cáo Lò Văn C 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ. Khấu trừ thời gian đã bị tạm giam là 133 ngày (Quy đổi thành 13 tháng 09 ngày cải tạo không giam giữ), bị cáo còn phải thi hành hình phạt còn lại là 04 (Bốn) tháng 21 (Hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ, tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện S, tỉnh Sơn La nhận được quyết định thi hành án của Tòa án.
- - Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
Căn cứ khoản 3 Điều 328 Bộ luật tố tụng Hình sự;
Trả tự do cho bị cáo Lò Văn C ngay tại phiên toà, nếu bị cáo không bị giam giữ về tội phạm khác.
- Giao bị cáo Lò Văn C cho UBND xã D, huyện S, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện S và UBND xã D trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586 và Điều 589 Bộ luật dân sự;
- - Buộc bị cáo Lò Văn C bồi thường cho nhà nước số tiền 14.181.180 đồng (Mười bốn triệu một trăm tám mươi mốt nghìn một trăm tám mươi đồng). Trong đó khấu trừ đi số 2.117.000 đồng (Hai triệu một trăm mười bảy nghìn đồng) do chị Lò Thị H tự nguyện giao nộp bồi thường cho bị cáo, theo biên lai thu số 0000749 ngày 01/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sốp Cộp, thì bị cáo còn phải bồi thường số còn lại là 12.064.000 đồng (Mười hai triệu không trăm sáu mươi tư nghìn đồng).
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47; khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự;
- - Tuyên tịch thu tiêu huỷ: 01 con dao quắm và 01 chiếc rìu của bị cáo, theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 26/8/2024 giữa cơ quan Điều tra Công an huyện S và cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện S.
- - Tuyên trả lại cho người có quyền lợi liên quan anh Lò Văn C1: 01 máy cưa xích và 01 lam cưa, theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 26/8/2024 giữa cơ quan Điều tra Công an huyện S và cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện S.
- - Chấp nhận việc Cơ quan điều tra Công an huyện S đã giao 26 khúc, đoạn cây gỗ bị cáo chặt phá tại hiện trường cho Ủy ban nhân dân xã D, huyện S để quản lý.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Buộc bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 603.000 đồng.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- - Báo cho bị cáo và người có quyền lợi liên quan biết quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (23/9/2024).
- - Báo cho nguyên đơn dân sự ông Cầm Văn V – Phó chủ tịch UBND xã D, huyện S là người đại diện theo uỷ quyền biết quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt theo thủ tục hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
T. M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kỳ Việt |
Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓP CỘP, TỈNH SƠN LA về huỷ hoại rừng
- Số bản án: 60/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Huỷ hoại rừng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓP CỘP, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lò Văn C phạm tội Huỷ hoại rừng
