Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 60/2024/HS-ST

Ngày 23 tháng 8 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hán Hưởng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Điền và ông Ngô Xuân Anh.

Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Trọng Tú - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quỳnh Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 54/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024.Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 178/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Bị cáo Thạch Thọ D, sinh ngày 09 tháng 3 năm 1988; tại xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội. Nơi thường trú: Thôn A, xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội. Giới tính: Nam. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Thạch Thọ X, sinh năm 1966, con bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1968, bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Hải L, sinh năm 1989, bị cáo có 01 người con sinh năm 2010.

    Tiền án, Tiền sự: Không.

    Nhân thân:

    • Ngày 03/10/2017, Công an huyện G, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác, phạt tiền 2.500.000đồng, nộp phạt xong ngày 09/10/2017.

    • Ngày 28/02/2018, Công an huyện G, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý làm hư hỏng tài sản, số tiền 3.500.000đồng.

    • Tại bản án hình sự phúc thẩm số 595/2018/HSPT ngày 29/9/2018, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 16 tháng tù giam về tôi Cố ý gây thương tích, chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/8/2019, nộp xong án phí ngày 26/6/2019.

    • Ngày 01/7/2022, Công an huyện G, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác, phạt tiền 6.500.000đồng, nộp phạt xong ngày 03/8/2022.

    • Bị can đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 08/12/2023 đến ngày 15/12/2023, áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

  2. Bị cáo Nguyễn Duy Đ, sinh ngày 26 tháng 4 năm 1970; tại xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội. Nơi thường trú: Thôn A, xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội. Giới tính: Nam. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa lớp 06/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Duy N (đã chết); con bà Nguyễn Thị G (đã chết), bị cáo có vợ là Nguyễn Thị X1, sinh năm 1970 và 03 người con; con lớn nhất sinh năm 1990, con nhỏ nhất sinh năm 1997.

    Tiền án: Không, tiền sự: Không.

    Nhân thân:

    • Bản án hình sự sơ thẩm số 121/2010/HSST ngày 22, 26/11/2010, Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng 20 ngày tù cho hưởng án treo, thử thách 46 tháng về tội Tổ chức đánh bạc.

    • Bản án hình sự sơ thẩm số 242/2014/HSST ngày 19/6/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội Đánh bạc. Tổng hợp bản án số 121/2010/HSST ngày 26/11/2010 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm. Buộc bị cáo phải chấp hành 44 tháng 20 ngày tù. Phạt bổ sung 8.000.000đồng (Chấp hành xong hình phạt tù 15/3/2016, chấp hành xong phạt bổ sung, án phí ngày 20/3/2015).

    • Ngày 30/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H khởi tố bị can, tạm giam về tội Tổ chức đánh bạc.

    • Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 08/12/2023 đến ngày 15/12/2023. Áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện nay bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 01 Công an thành phố H trong vụ án khác (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

  3. Bị cáo Nguyễn Văn T, sinh ngày 08 tháng 12 năm1985; tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn X, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Giới tính: Nam. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa lớp 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1952, còn bà Phạm Thị L1, sinh năm 1956, bị cáo có vợ là Lê Thị H, sinh năm 1988 và 02 người con; con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2015.

    Tiền án: Không, tiền sự: Không.

    Nhân thân: (02 lần bị xử phạt về hành vi cố ý gây thương tích, 02 lần bị xử phạt về hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác).

    • Ngày 30/6/2016, Công an huyện G, Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích, phạt tiền 2.500.000đồng, nộp phạt xong ngày 11/3/2013.

    • Ngày 22/8/2017, Công an huyện G, Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác, phạt tiền 200.000đồng.

    • Ngày 04/9/2017, công an huyện G, Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe người khác, phạt 2.500.000đồng, nộp phạt xong ngày 22/9/2017.

    • Ngày 15/9/2017, Công an huyện G, Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi xúc phạm danh dự nhân phẩm của người khác, phạt tiền 200.000đồng, nộp phạt xong ngày 29/9/2017.

    • Bị can bị bắt khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 08/12/2023 đến ngày 15/12/2023 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

  4. Bị cáo Nguyễn Anh T1, sinh ngày 03 tháng 8 năm 1991; tại xã N, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Nơi thường trú: Khu X, xã N, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Giới tính: Nam. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Trình độ văn hóa lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn B; sinh năm 1965, con bà Đỗ Thị H1, sinh năm 1968. Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị N2, sinh năm 1995 và 01 người con sinh năm 2020.

    Tiền án: Không, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt.

    Bị cáo tự thú, bị tạm giữ từ ngày 08/12/2023 đến ngày 15/12/2023. Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

  5. Bị cáo Nguyễn Tuấn A1, sinh ngày 31 tháng 3 năm1993; tại quận L, thành phố Hà Nội. Nơi thường trú: Số nhà A, tổ A, phường T, quận L, thành phố Hà Nội. Giới tính: Nam. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1959, con bà Đặng Thị D1, sinh năm 1963, bị cáo có vợ là Phạm Thị T3, sinh năm 2000 và 01 người con sinh năm 2023.

    Tiền án: Không, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt.

    Bị cáo đầu thú tạm giữ từ ngày 08/12/2023 đến ngày 15/12/2023. Áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Thạch Thọ D, sinh năm 1988; trú tại Thôn A, xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội do hám lời nên nảy sinh ý định đánh bạc hình thức cá độ bóng đá trên mạng internet. Khoảng tháng 09/2023, D mua được 01 tài khoản để cá độ bóng đá của một người không quen biết, đăng nhập tại địa chỉ website https://ag.3in1bet.net tài khoản có kí hiệu htr100 mật khẩu là “Qqqq9999@”. Sau đó D sử dụng điện thoại Iphone 7 Plus của mình có kết nối internet để đăng nhập sử dụng tài khoản; thấy tài khoản có thể chia cắt được cho người khác cùng tham gia với mật khẩu cấp thứ hai là “123321” (đây là mật khẩu chia quyền). D đã chia cắt thêm 02 tài khoản nữa cấp cho các con bạc để tham gia cá độ với mình. Cụ thể như sau:

  1. D chia thêm tài khoản thứ nhất có ký hiệu htr100002, mật khẩu “Qqqq1111@” cấp cho Nguyễn Duy Đ; sinh năm 1970; trú tại thôn B, xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội. Tài khoản này có hạn mức 100.000 điểm/ngày, D và Đ thống nhất tỉ lệ quy đổi 01 điểm bằng 20.000 đồng. Khi tham các độ bóng đá, Đ sẽ đăng nhập tài khoản, cược điểm để cá độ với D, sau khi có kết quả thì quy đổi ra tiền và tổng hợp thanh toán tiền mặt vào thứ 2 hàng tuần.

    Vào hồi 05 giờ 49 phút 02 giây ngày 02/10/2023 theo giờ trang web (tức 04 giờ 49 phút 02 giây ngày 02/10/2023 theo giờ Việt Nam), Đ đã truy cập và đặt cược độ 01 kèo với D tại trận đấu giữa đội R và đội Palmeiras SP thuộc khuôn khổ giải bóng đá Seri A của B1. Đa đặt cược 150 điểm tương ứng số tiền 3.000.000 đồng vào đội Palmeiras SP được chấp 01 quả, tỉ lệ ăn 0,97 khi đó tỉ số trận đấu đang là Red B2 Bragantino SP: 0 - Palmeiras SP: 1. Tuy tỉ lệ cược là 0,97 nhưng Đ và D thỏa thuận với nhau bên nào thắng cược thì bên thua phải trả số tiền 3.000.000 đồng tức là tỉ lệ thắng thua 1-1. Kết thúc trận đấu, tỉ số là Red Bull Bragantino SP: 2 - Palmeiras SP: 1, nên Đ bị thua cược, phải trả cho D số tiền 3.000.000 đồng, số tiền này Đ và D đã thanh toán cho nhau.

    Ở lần cá độ này, D và Đ thỏa thuận mỗi người cùng bỏ ra số tiền 3.000.000 đồng để cá độ với nhau; kết quả D thắng cược thu lời được số tiền 3.000.000 đồng. Như vậy xác định đây là một lần đánh bạc, tổng số tiền dùng đánh bạc ở lần này là 6.000.000 đồng.

  2. D chia thêm tài khoản thứ hai có ký hiệu htr100003, mật khẩu là "loctho68@” cấp cho Nguyễn Văn T, sinh năm 1985; trú tại thôn T, xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội. Tài khoản này có hạn mức 30.000 điểm, D và T thống nhất tỉ lệ quy đổi 01 điểm bằng 25.000 đồng. Khi tham các độ, T sẽ đăng nhập tài khoản, cược điểm để cá độ với D. Sau khi có kết quả thì quy đổi ra tiền và tổng hợp thanh toán tiền mặt với D vào thứ 2 hàng tuần.

    Vào hồi 05 giờ 52 phút 02 giây ngày 02/10/2023 theo giờ trang web (tức 04 giờ 52 phút 02 giây ngày 02/10/2023 theo giờ Việt Nam), T truy cập và cá độ 01 kèo với D cũng tại trận đấu giữa đội R và đội Palmeiras SP trong giải bóng đá Seri A của B1. T đặt cược 100 điểm tương ứng 2.500.000 đồng vào đội Palmeiras SP được chấp 01 quả, tỉ lệ ăn 0,97 khi tỉ số trận đấu đang là Red B2 Bragantino SP: 0 - Palmeiras SP: 1. D và T thỏa thuận nếu bên nào thắng cược thì được bên thua phải trả số tiền 2.500.000 đồng. Kết thúc trận đấu, tỉ số là Red Bull Bragantino SP: 2 - Palmeiras SP: 1.

    Như vậy, ở kèo này T và D thỏa thuận mỗi người đều bỏ ra số tiền 2.500.000 đồng để cá độ với nhau. Kết quả D thắng cược, được hưởng lợi số tiền 2.500.000 đồng. Xác định tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc dưới hình thức cá độ ở lần này là 5.000.000 đồng.

  3. Quá trình điều tra còn xác định, sau khi nhận được tài khoản cá độ bóng đá từ D; Nguyễn Duy Đ và Nguyễn Văn T đã chia cắt thêm tài khoản cho người khác tham gia để cá độ với mình. Cụ thể như sau:

    1. Nguyễn Duy Đ sau khi nhận tài khoản cá độ do D cấp, Đ thấy tài khoản có thể chia cắt được thêm. Đa đã chia cắt thêm 01 tài khoản khác có kí hiệu htr100002025 và cấp cho Nguyễn Tuấn A1, sinh năm 1993; trú tại tổ A, phường T, quận L, thành phố Hà Nội với hạn mức 1.000 điểm để Tuấn Al tham gia cá độ bóng đá với Đ. Đa và Tuấn A1 thỏa thuận quy đổi 01 điểm tương ứng với 50.000 đồng, đường link truy cập để cá độ là www.3in1bet.net Tuấn Anh sau khi nhận tài khoản thì không sử dụng mà cho Nguyễn Anh T1, sinh năm 1991; trú tại khu X, xã N, huyện C, tỉnh Phú Thọ để T1 tham gia cá độ. Do Nguyễn Tuấn Al và Nguyễn Anh T1 là bạn bè quen biết nhau, T1 muốn chơi cá độ bóng đã nên nhờ Tuấn Al lấy hộ tài khoản và giúp cho việc thanh toán tiền thắng, thua cá độ. Tuấn A1 không tham gia cá độ nhưng do nể nang nên đã lấy tài khoản từ Đ và chuyển cho T1 tài khoản để T1 trực tiếp sử dụng cá độ, Tuấn A1 chỉ theo dõi để giúp thanh toán giữa Đ và T1.

      Vào hồi 05 giờ 49 phút 02 giây ngày 02/10/2023 theo giờ trang web tức 04 giờ 49 phút 02 giây ngày 02/10/2023 theo giờ Việt Nam, Nguyễn Anh T1 sử dụng tài khoản htr100002025 tham gia 01 kèo cá độ trận đấu bóng đá giữa 2 đội tuyển R1 và Palmeiras SP trong giải bóng đá Seri A. T1 đặt 150 điểm tương ứng số tiền 7.500.000 đồng vào đội tuyển Palmeiras SP được chấp 1 bàn thắng với tỉ lệ ăn 0,97 khi tỉ số trận đấu đang là Bragantino SP: 0 - Palmeiras SP: 1 nhưng T1 và Đ thỏa thuận bên nào thắng cược thì bên thua phải trả 7.500.000 đồng. Kết thúc trận đấu tỉ số trận đấu là R1: 2 - Palmeiras SP: 1, T1 thua kèo phải thanh toán số tiền 7.500.000 đồng, số tiền này T1 đã đưa cho Tuấn A1 để Tuấn A1 thanh toán cho Đ.

      Như vậy ở lần cá độ này, Đ và T1 thỏa thuận ai thắng cược thì bên kia phải trả số tiền 7.500.000 đồng; kết quả T1 thua cược, Đ được hưởng lợi số tiền 7.500.000 đồng. Xác định tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc của Nguyễn Duy Đ và Nguyễn Anh T1 là 15.000.000 đồng

    2. Nguyễn Văn T khi đăng nhập tài khoản có ký hiệu htr100003 thì T còn chia cắt thêm một tài khoản có ký hiệu htr100003008 cho Nguyễn Tuấn A1, sinh năm 1993; trú tại tổ A, phường T, quận L, Hà Nội với hạn mức 1.000 điểm để Tuấn Al tham gia cá độ với T. T và Tuấn A1 thỏa thuận tỉ lệ quy đổi 01 điểm là 50.000 đồng, đường link truy cập để cá độ là www.3in1bet.net Tuấn Anh sau khi nhận tài khoản thì không sử dụng mà cho Nguyễn Anh T1, sinh năm 1991; trú tại khu X, xã N, huyện C, tỉnh Phú Thọ để T1 tham gia cá độ. Do Nguyễn Tuấn Al và Nguyễn Anh T1 là bạn bè quen biết nhau, T1 muốn chơi cá độ bóng đã nên nhờ Tuấn Al lấy hộ thêm tài khoản và giúp cho việc thanh toán tiền thắng, thua cá độ. Tuấn Al không tham gia cá độ nhưng do nể nang nên đã lấy tài khoản từ T và chuyển cho T1 tài khoản để T1 trực tiếp sử dụng cá độ, Tuấn Al chỉ theo dõi để giúp thanh toán giữa T và T1.

      Vào rạng sáng ngày 02/10/2023 tại trận đấu bóng đá giữa 2 đội tuyển R1 và đội Palmeiras SP trong giải bóng đá Seri A, Nguyễn Anh T1 truy cập tài khoản htr100003008 đặt cược 100 điểm tương ứng 5.000.000 đồng, đặt kèo đội tuyển Palmeiras SP được chấp 01 quả, tỉ lệ ăn 0,97 (khi tỉ số trận đấu đang là Red B2 Bragantino SP: 0 - Palmeiras SP: 1), T1 thỏa thuận với T nếu bên nào thắng cá độ thì bên kia phải trả số tiền 5.000.000 đồng. Kết thúc trận đấu, tỉ số là Red Bull Bragantino SP: 2 - Palmeiras SP: 1, nên T1 thua số tiền 5.000.000 đồng. Số tiền này T1 đã đưa cho Tuấn A1 để Tuấn A1 thanh toán cho T.

      Theo thỏa thuận giữa T và T1 khi cá độ là mỗi người bỏ ra số tiền 5.000.000 đồng để đánh bạc dưới hình thức cá độ bóng đá, kết quả T1 thua cược, T được hưởng lợi số tiền 5.000.000 đồng. Do vậy xác định tổng số tiền dùng đánh bạc của Nguyễn Văn T và Nguyễn Anh T1 là 10.000.000 đồng.

Nhận thấy hành vi cá độ ăn tiền là vi phạm pháp luật hình sự nên đến ngày 08/12/2023, Nguyễn Anh T1 đã tự giác đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P tự thú, giao nộp 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iphone 6s màu trắng sử dụng để đăng nhập, tham gia cá độ và khai báo về hành vi đánh bạc của mình như trên.

Cùng ngày 8/12/2023, Nguyễn Tuấn A1 và Thạch Thọ D đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P đầu thú. Tuấn A1 giao nộp 01 (một)điện thoại di động nhãn hiệu iphone 13 promax màu trắng, lắp sim số 0963631393; D giao nộp 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iphone 7 plus màu vàng lắp sim số: 0968.083.888 là phương tiện để đăng nhập thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức cá độ bóng đá.

Căn cứ kết quả điều tra, ngày 08/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Duy Đ và Nguyễn Văn T; thu giữ 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu Panasonic màu trắng bạc của Đ, đối với T không thu giữ gì;

Xét thấy các đối tượng có hành vi sử dụng tài khoản, mạng internet, đăng nhập trên thiết bị điện tử để thực hiện việc cá độ bóng đá ăn tiền nhằm kiếm lời. Xuất phát ban đầu từ tài khoản của Thạch Thọ D, sau đó chia tách thêm 02 tài khoản cho Nguyễn Duy Đ và Nguyễn Văn T; rồi T và Đ chia tách thêm 01 tài khoản nữa cho Nguyễn Anh T1 có dấu hiệu của hành vi tổ chức cá độ theo phân cấp. Việc sử dụng tài khoản cá độ, thỏa thuận quy đổi điểm ra tiền để đánh bạc với nhau nhằm hình thành chiếu bạc online, tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng. Tuy nhiên, các đối tượng cá độ, thỏa thuận trực tiếp, độc lập với nhau; D không được hưởng lợi gì, không biết và không liên quan tới việc Đ cá độ với T1 hoặc T cá độ với T1.

Đối với Nguyễn Tuấn A1 là người đã lấy tài khoản từ Nguyễn Duy Đ và Nguyễn Văn T rồi giao lại cho Nguyễn Anh T1 sử dụng để cá độ bóng đá. Mặc dù Tuấn A1 không tham gia cá độ, không được hưởng lợi về vật chất nhưng đã giúp cho T1 có tài khoản, làm trung gian giúp thanh toán tiền thắng, thua từ việc cá độ giữa T1 với Đ và T. Nên Nguyễn Tuấn A1 phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm giúp sức tích cực cho T1 thực hiện hành vi phạm tội đánh bạc dưới hình thức cá độ bóng đá.

Ngày 15/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P đã quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Thạch Thọ D, Nguyễn Duy Đ, Nguyễn Văn T, Nguyễn Tuấn Al và Nguyễn Anh T1 về tội “Đánh bạc” theo quy định khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự với tình tiết “Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội”.

Quá trình điều tra, các bị can thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Trong đó:

Bị can Nguyễn Duy Đ có tiền sử bệnh lý ung thư di căn thực quản, dạ dày; sau khi áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đến ngày 30/01/2024 bị can Đ bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H khởi tố bị can về tội tổ chức đánh bạc, áp dụng biện pháp tạm giam kể từ ngày 31/01/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố H. Bị can có hai lần tham gia cá độ nhưng trong một trận đá bóng nên không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị can Đa có bố đẻ là ông Nguyễn Duy N được tặng Huy chương kháng chiến chống Mỹ. Ngày 15/5/2024 đã nộp lại tiền thu lời bất chính 4.500.000 đồng tại biên lai số 0000328 của Cục THADS tỉnh P. Bị can thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Các bị can Thạch Thọ D, Nguyễn Tuấn A1 đầu thú; bị can Nguyễn Anh T1 tự thú, bị can Nguyễn Văn T bị giữ, bắt người trong trường hợp khẩn cấp nhưng đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngày 30/5/2024, bị can D đã tự nguyện nộp số tiền 5.700.000 đồng thu lời và tạm thu án phí theo biên lại số 0000349 của Cục THADS tỉnh P (trong đó có 5.500.000đồng thu lời bất chính và 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm); bị can T nộp 2.700.000 đồng tiền thu lời và tạm thu án phí theo biên lại số 0000350 của Cục THADS tỉnh P (trong đó có 2.500.000đồng thu lời bất chính và 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm). Bản thân bị can D được UBND xã T, huyện G, thành phố Hà Nội tặng giấy khen người tốt việc tốt. Bị can Nguyễn Văn T có ông nội là Nguyễn Văn T4 được khen thưởng Huy chương chống Pháp hạng nhất; có giấy xác nhận bị can ủng hộ vật chất cho Trạm Y tế và Hội khuyến học xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Bị can Nguyễn Anh T1 có ông nội là ông Nguyễn Văn V được tặng thưởng Huy chương kháng chiến.

Do vậy cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị can D, Tuấn A1, Anh T1 và T theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị can Nguyễn Anh T1 tự thú được áp dụng theo quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị can đều không phải chịu tình tiết tăng nặng do có hai lần tham gia cá độ nhưng trong một trận đá bóng.

Tại bản cáo trạng số: 61/CT-VKS ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đã truy tố các bị cáo: T, Nguyễn Duy Đ, Nguyễn Văn T, Nguyễn Anh T1 và Nguyễn Tuấn A1 đều phạm tội Đánh bạc.

Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Thạch Thọ D, Nguyễn Duy Đ, Nguyễn Văn T, Nguyễn Anh T1 và Nguyễn Tuấn A1 đều phạm tội Đánh bạc.

- Về điều luật áp dụng:

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Tuấn A1.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 321, điểm s, r khoản 1; khoản 2 Điều 51 Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Anh T1.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Duy Đ và bị cáo Thạch Thọ D.

Đề nghị:

  • Xử phạt bị cáo Thạch Thọ D từ 36 đến 39 tháng tù, trừ cho bị cáo thời gian tạm giữ từ ngày 08/12 đến này 15/12/2023. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy Đ từ 39 đến 42 tháng tù, trừ cho bị cáo thời gian tạm giữ từ ngày 08/12 đến này 15/12/2023. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 36 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 tháng, thời hạn thử thách kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T1 36 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 tháng, thời hạn thử thách kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A1 36 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 tháng, thời hạn thử thách kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo bị xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo cho địa phương nơi cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo và các bị cáo này phải thực hiện nghĩa vụ của người thi hành án phạt tù cho hưởng án treo theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

- Về hình phạt bổ sung:

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với cả 05 bị cáo.

- Về xử lý vật chứng:

Đề nghị tịch thu vật chứng để nộp ngân sách nhà nước như sau:

  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 7 plus màu vàng imei 355350080462849, điện thoại cũ đã qua sử dụng của Thạch Thọ D.

  • 01 máy tính xách tay nhãn hiệu panasomic màu trắng bạc, Máy cũ đã qua sử dụng của Nguyễn Duy Đ.

  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 6s màu trắng imei 358565072222581, điện thoại cũ đã qua sử dụng của Nguyễn Anh T1.

- Đề nghị trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 13 promax màu trắng imei 353324654128724, lắp sim số 0963631393, điện thoại cũ đã qua sử dụng cho bị cáo Nguyễn Tuấn A1 không liên quan hành vi phạm tội nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Tịch thu của bị cáo Thạch Thọ D số tiền 5.700.000đồng (trong đó có 5.500.000đồng thu lời bất chính và 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm); Nguyễn Duy Đ nộp số tiền 4.500.000 đồng và Nguyễn Văn T số tiền 2.700.000 đồng (trong đó có 2.500.000đồng thu lời bất chính và 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm), các bị cáo đã nộp để nộp ngân sách nhà nước.

Tịch thu 01 sim số 0968.083.888 thu giữ của bị cáo Thạch Thọ D không còn giá trị sử dụng để tiêu hủy.

- Về án phí: Các bị cáo Thọ Thọ D, Nguyễn Duy Đ, Nguyễn Văn T, Nguyễn Tuấn A1 và Nguyễn Anh T1 đều phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo khác không tham gia tranh luận gì đối với bản luận tội của Kiểm sát viên và nói lời sau cùng: Các bị cáo tỏ ra ăn năn hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát được thực hiện theo đúng trình tự thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều tra viên, Kiểm sát viên thực hiện việc điều tra, thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự đã đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

[2] Căn cứ lời trình bày của bị cáo, vật chứng thu giữ, người làm chứng có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xét hỏi tại phiên tòa, có đủ cơ sở để kết luận:

Do hám lời nên Thạch Thọ D đã mua tài khoản cá độ bóng đá trên mạng internet của người không quen biết, sau đó D đã chia thêm 02 tài khoản cấp cho Nguyễn Duy Đ và Nguyễn Văn T để đánh bạc với mình dưới hình thức cá độ bóng đá. Sau khi có được tài khoản bị cáo Nguyễn Duy Đ và bị cáo Nguyễn Văn T tiếp tục chia nhỏ cấp cho Nguyễn Tuấn A1, Tuấn A1 không tham gia cá độ mà chuyển tài khoản cho Nguyễn Anh T1 tham gia cá độ với Đ và T.

Ngày 02/10/2023, các đối tượng đã sử dụng phương tiện điện tử đăng nhập tài khoản, mạng intenet để đánh bạc dưới hình thức cá độ bóng đá với nhau trong cùng một trận đá bóng giữa đội tuyển Red Bull Bragantino SP và đội Palmeiras SP trong giải bóng đá Seri A, cụ thể như sau: Thạch Thọ D sử dụng đánh bạc số tiền 11.000.000 đồng; Nguyễn Duy Đ sử dụng số tiền đánh bạc 21.000.000 đồng, Nguyễn Văn T sử dụng số tiền đánh bạc là 15.000.000 đồng, Nguyễn Anh T1 sử dụng số tiền đánh bạc là 25.000.000 đồng. Nguyễn Tuấn A1 không tham gia cá độ bóng đá nhưng đã lấy tài khoản cá độ từ Đa, T chuyển cho T1 và làm trung gian thanh toán tiền thắng thua nên phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm với Nguyễn Anh T1 về hành vi đánh bạc. Trong đó bị cáo Nguyễn Văn T được hưởng lợi số tiền 2.700.000 đồng, Đ được hưởng lợi số tiền 4.500.000 đồng và Thạch Thọ D số tiền 5.700.000đồng.

Như vậy, có đủ cơ sở pháp lý để kết luận: Các bị cáo Thạch Thọ D, Nguyễn Duy Đ, Nguyễn Văn T, Nguyễn Anh T1 và Nguyễn Tuấn A1 đã thực hiện hành vi sử dụng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội đánh bạc, quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

[3] Xét tính chất hành vi phạm tội và vai trò của từng bị cáo thấy rằng: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng. Bị cáo Thạch Thọ D có vai trò lớn nhất. Các bị cáo còn lại có vai trò không lớn, trong đó Nguyễn Duy Đ, Nguyễn Văn T, Nguyễn Anh T1, chỉ là người tham gia đánh bạc. Nguyễn Tuấn A1 có vai trò là người giúp sức. Vì vậy, cần phải xem xét tính chất, vai trò của từng bị cáo để áp dụng hình phạt tương xứng tính chất, hành vi phạm tội của từng bị cáo.

[4] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của từng bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

4.1. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Cả 5 bị cáo đều thành khẩn khai báo giúp cho việc điều tra được thuận lợi nên cả năm bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: Thành khẩn khai báo hoặc tỏ ra ăn năn hối cải, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Bị cáo Nguyễn Anh T1 đã đến cơ quan điều tra tự thú về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: Người phạm tội tự thú quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Anh T1 có ông nội là Nguyễn Văn V được tặng thưởng Huy chương kháng chiến được coi là 01 tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Tuấn A1 đã đầu thú về hành vi phạm tội của mình.

Bị cáo Thạch Thọ D: Đã đầu thú hành vi phạm tội của mình, tự nguyện nộp số tiền 5.700.000đồng thu lời bất chính và tiền án phí hình sự sơ thẩm và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, thành phố Hà Nội tặng giấy khen người tốt việc tốt được coi là 03 tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Duy Đ nộp số tiền 4.500.000 đồng thu lời bất chính.

Bị cáo Nguyễn Văn T tự nguyện nộp 2.700.000đồng tiền thu lời bất chính, nộp án phí hình sự sơ thẩm và có ông nội là Nguyễn Văn T4 được khen thưởng huy chương chống pháp hạng nhất; có giấy xác nhận bị can ủng hộ vật chất cho trạm Y tế và Hội khuyến học xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình cũng được coi là 03 tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

4.2. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Cả năm bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

4.3 Về nhân thân của các bị cáo:

  • Bị cáo Thạch Thọ D: Tại bản án hình sự phúc thẩm số 595/2018/HSPT ngày 29/9/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 16 tháng tù giam về tội cố ý gây thương tích và 03 lần bị xử phạt hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe người khác và làm hư hỏng tài sản.

  • Bị cáo Nguyễn Duy Đ: Bị 02 lần xét xử về hành vi phạm tội Tổ chức đánh bạc.

  • Bị cáo Nguyễn Văn T: Bị 04 lần xử phạt về hành vi liên quan đến gây thương tích, xúc phạm danh dự nhân phẩm người khác, nhưng không bị xử phạt hành chính liên quan hành vi đánh bạc.

  • Bị cáo Nguyễn Anh T1 và bị cáo Nguyễn Tuấn A1 trước khi phạm tội có nhân thân tốt.

Căn cứ tính chất hành vi phạm tội; căn cứ tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của từng bị cáo thấy rằng: Cần chấp nhận đề nghị của KSV để xử phạt bị cáo như sau:

Xử phạt hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Thạch Thọ D và bị cáo Nguyễn Duy Đ. Xử phạt hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Anh T1 và bị cáo Nguyễn Tuấn A1, mức độ tương xứng với tính chất của từng hành vi phạm phạm tội của từng bị cáo mới đảm bảo trừng trị, giáo dục và phòng ngừa trong xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đồng đến 50.000.000đồng”.

Xét thấy: Các bị cáo đều không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với tất cả các bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với số tiền 5.500.000đồng thu giữ của bị cáo Thạch Thọ D; số tiền 4.500.000đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Duy Đ và số tiền 2.500.000đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn T. Đây là số tiền các bị cáo có được do hành vi phạm tội mà có nên phải tịch thu để nộp ngân sách nhà nước.

  • Đối với số tiền 200.000đồng thu giữ của bị cáo Thạch Thọ D và 200.000đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn T. Đây là số tiền các bị cáo nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm. Lẽ ra số tiền án phí hình sự sơ thẩm chỉ được quyết định khi xác định bị cáo có tội và thuộc trường hợp phải nộp án phí hình sự sơ thẩm thì bị cáo mới phải nộp, nhưng cơ quan điều tra đã cho bị cáo D và bị cáo T nộp trước khi xét xử là chưa đúng pháp luật. Tuy nhiên, tại bản án hình sự sơ thẩm đã xác định bị cáo Thạch Thọ D và bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, nên xác nhận hai bị cáo đều đã nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  • Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 7 plus màu vàng imei 355350080462849, điện thoại cũ đã qua sử dụng của Thạch Thọ D; 01 máy tính xách tay nhãn hiệu panasomic màu trắng bạc, Máy cũ đã qua sử dụng của Nguyễn Duy Đ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 6s màu trắng imei 358565072222581, điện thoại cũ đã qua sử dụng của Nguyễn Anh T1. Các bị cáo sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên phải tịch thu để nộp ngân sách nhà nước.

  • Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 13 promax màu trắng imei 353324654128724 lắp 01 sim số 0963631393 thu giữ của Nguyễn Tuấn A1 không liên quan hành vi phạm tội. Bị cáo A1 đề nghị được xin lại, nên cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

  • Đối với 01 sim số 0968.083.888 của bị cáo Thạch Thọ D không còn giá trị sử dụng nên tịch thu để tiêu hủy.

[7] Về án phí: Các bị cáo Thạch Thọ D, Nguyễn Duy Đ, Nguyễn Văn T, Nguyễn Anh T1 và Nguyễn Tuấn A1, mỗi bị cáo đều phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm. Xác nhận bị cáo Thạch Thọ D và bị cáo Nguyễn Văn T, mỗi bị cáo đã tạm nộp số tiền 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về điều luật áp dụng:

    Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Thạch Thọ D và bị cáo Nguyễn Duy Đ.

    Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 321, điểm s, r khoản 1; khoản 2 Điều 51 Điều 54 và khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Anh T1.

    Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 và khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T và bị cáo Nguyễn Tuấn A1.

  2. Về tội danh:

    Tuyên bố: Các bị cáo Thạch Thọ D, Nguyễn Duy Đ, Nguyễn Văn T, Nguyễn Tuấn A1 và bị cáo Nguyễn Anh T1 đều phạm tội Đánh bạc.

  3. Về hình phạt:

    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy Đ 39 (Ba mươi chín) tháng tù. Trừ cho bị cáo thời gian bị tạm giữ từ ngày 08/12/2023 đến ngày 15/12/2023. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

    • - Xử phạt bị cáo Thạch Thọ Dũng 3 (Ba mươi sáu) tháng tù. Trừ cho bị cáo thời gian tạm giữ từ ngày 08/12/2023 đến ngày 15/12/2023. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Thọ 31 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 năm. Thời hạn thử thách kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Trong thời gian thử thách, giao bị cáo Nguyễn Văn T cho chính quyền địa phương xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội, nơi bị cáo Nguyễn Văn T cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội trong việc giám sát, giáo dục bị cáo Nguyễn Văn T.

    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T1 30 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 năm. Thời hạn thử thách kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Trong thời gian thử thách, giao bị cáo Nguyễn Anh T1 cho chính quyền địa phương xã N, huyện C, tỉnh Phú Thọ nơi bị cáo Nguyễn Anh T1 cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương xã N, huyện C, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo Nguyễn Anh T1.

    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn Anh 32 (Ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 năm. Thời hạn thử thách kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Trong thời gian thử thách, giao bị cáo Nguyễn Tuấn A1 cho chính quyền địa phương phường T, quận L, thành phố Hà Nội, nơi bị cáo Nguyễn Tuấn A1 cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương phường T, quận L, thành phố Hà Nội trong việc giám sát, giáo dục bị cáo Nguyễn Tuấn A1.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

  4. Về xử lý vật chứng:

    Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    • - Tịch thu của bị cáo Nguyễn Duy Đa s tiền 4.500.000đồng thu lời bất chính đã nộp tại biên lai thu tiền số 0000328 ngày 15/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ; tịch thu của bị cáo Thạch Thọ D số tiền 5.500.000đồng thu lời bất chính (trong tổng số tiền bị cáo đã nộp 5.700.000đồng) tại biên lai thu số 0000349 ngày 30/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ và tịch thu của bị cáo Nguyễn Văn T số tiền 2.500.000đồng thu lời bất chính (trong tổng số tiền bị cáo đã nộp 2.700.000đồng) tại biên lai thu số 0000350 ngày 30/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ để nộp ngân sách nhà nước.

    • - Tịch thu: 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 7 plus màu vàng imei 355350080462849, điện thoại cũ đã qua sử dụng của Thạch Thọ D; tịch thu 01 máy tính xách tay nhãn hiệu panasomic màu trắng bạc, Máy cũ đã qua sử dụng của Nguyễn Duy Đ; tịch thu 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 6s màu trắng imei 358565072222581, điện thoại cũ đã qua sử dụng của Nguyễn Anh T1 để nộp ngân sách nhà nước.

    • - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tuấn A1 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 13 promax màu trắng imei 353324654128724 và 01 sim số 0963631393 điện thoại cũ đã qua sử dụng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

    • - Tịch thu 01 sim số 0968.083.888 của bị cáo Thạch Thọ D không còn giá trị sử dụng để tiêu hủy.

  5. Về án phí:

    Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

    Buộc bị cáo Thạch Thọ D, Nguyễn Duy Đ, Nguyễn Văn T, Nguyễn Anh T1 và Nguyễn Tuấn Al, mỗi bị cáo đều phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Xác nhận bị cáo Thạch Thọ D đã nộp 200.000đồng tạm ứng án phí hình sự sơ thẩm (trong tổng số tiền đã nộp 5.700.000đồng) tại biên lai thu số 0000349 ngày 30/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ và bị cáo Nguyễn Văn T đã nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm (trong tổng số tiền đã nộp 2.700.000đồng) tại biên lai thu số 0000350 ngày 30/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.

Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án cấp cao tại Hà Nội xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - Phòng PC01, PV06 Công an tỉnh Phú Thọ;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ;
  • - Cục THA dân sự tỉnh Phú Thọ;
  • - Cơ quan THAHS CA tỉnh Phú Thọ;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HS, AV;

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hán Hưởng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về hình sự (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 60/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thạch Thọ D và đồng phạm - Tội đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger