Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TÂN CHÂU

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 23/7/2024

“V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Trường Vũ và bà Ngô Kim Quyên.

Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Tấn Bửu, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Bảo Thịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 67/2023/TLST-HNGĐ ngày 11/3/2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 94/2024/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị Diệu H, sinh năm 1992; cư trú: tổ A, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang (có mặt).

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1987; cư trú: Tổ 7, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Trần Thị Diệu H trình bày: Năm 2015, do mai mối chị H và anh Nguyễn Văn T được gia đình hai bên đồng ý tổ chức lễ cưới, đi đến hôn nhân. Sau khi kết hôn, chị H và anh T trú tại khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến khoảng năm 2019, bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống về tình cảm và kinh tế. Chị H và anh T đã sống xa nhau từ tháng 7 năm 2023 cho đến nay. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn nên chị H kiên quyết yêu cầu ly hôn với anh T.

Trong thời kỳ hôn nhân, chị H và anh T có 01 (một) người con chung tên Nguyễn Thị Cẩm H1, sinh ngày 27/05/2015. Hiện cháu H1 đang sinh sống với chị H. Chị H yêu cầu được nuôi dưỡng cháu H1 và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án số 142/TB-TLVA ngày 11/3/2024 và các văn bản tố tụng khác cho anh Nguyễn Văn T thông qua người thân là bà Hồ Thị D (là dì ruột anh T) và cam kết báo lại cho anh T biết về việc chị H nộp đơn khởi kiện ly hôn với anh T nhưng đến nay, anh T không tham gia tố tụng và cung cấp văn bản ý kiến của mình cho Tòa án.

Quá trình tố tụng, Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ: Xác minh mối quan hệ hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung; Biên bản xác minh tại Công an phường L; Biên bản ghi nhận ý kiến nguyện vọng của cháu Nguyễn Thị Cẩm H1, cụ thể:

  • - Bà Hồ Thị D (dì ruột ông T) cung cấp: Anh T và chị H là vợ chồng và có 01 con chung tên Nguyễn Thị Cẩm H1. Hiện cháu H1 đang sinh sống với chị H. Việc mẫu thuẫn giữa vợ chồng anh T và chị H như thế nào bà D không biết. Nhưng cuối năm 2022, chị H bỏ địa phương đi cho đến nay cùng với cháu H1. Đến đầu năm 2024, thì anh T cũng đi làm ăn ở Thành phố Hồ Chí Minh cho đến nay. Bà D có nhận các văn bản tố tụng do Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu gửi và có thông báo lại cho anh T. Anh T cũng cho biết đồng ý ly hôn với chị H và đồng ý giao cháu H1 nuôi dưỡng con chung.
  • - Biên bản xác minh tại Công an phường L cung cấp: Đương sự Nguyễn Văn T có đăng ký thường trú tại khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang chung hộ với bà Hồ Thị D. Hiện nay, anh T vắng mặt tại địa phương.
  • - Biên bản ghi nhận ý kiến nguyện vọng của cháu Nguyễn Thị Cẩm H1: Cháu H1 là con ruột anh Nguyễn Văn T và chị Trần Thị Diệu H, hiện cháu đang sống cùng với mẹ. Nếu cha mẹ được Tòa án giải quyết ly hôn thì cháu có nguyện vọng sống với mẹ.

Tại phiên tòa, chị H kiên quyết yêu cầu ly hôn với anh T và yêu cầu được nuôi dạy hai con chung tên Cẩm H1, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.

- Phát biểu của Kiểm sát viên:

  • + Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:

Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ việc đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về quyền và nghĩa vụ của đương sự. Bị đơn vắng mặt tại các buổi họp và làm việc của Tòa án.

  • + Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
  • - Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Diệu H với anh Nguyễn Văn T.
  • - Về con chung: Chị H được nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thị Cẩm H1, sinh ngày 27/05/2015. Anh T không phải cấp dưỡng cho nhau để nuôi con chung.
  • - Về án phí: Chị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

*Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền: Chị Trần Thị Diệu H khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn T. Anh T có nơi cư trú khóm Long Quới C, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn anh Nguyễn Văn T được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn như theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

* Về nội dung:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh T do mai mối, được gia đình hai bên chấp thuận và tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 32/2015 ngày 06 tháng 4 năm 2015 phù hợp Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên hôn nhân giữa chị H và anh T là hợp pháp, phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.

Chị H khai, thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến khoảng năm 2019, bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống về tình cảm và kinh tế. Chị H và anh T đã sống xa nhau từ tháng 7 năm 2023 cho đến nay. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H kiên quyết yêu cầu ly hôn với anh T.

Theo kết quả xác minh (lấy lời khai bà Hồ Thị D) cung cấp: Anh T và chị H là vợ chồng, việc mẫu thuẫn giữa vợ chồng TH như thế nào bà D không biết. Nhưng cuối năm 2022, chị H bỏ địa phương đi cho đến nay cùng với cháu H1. Đến đầu năm 2024, thì anh T cũng đi làm ăn ở Thành phố Hồ Chí Minh cho đến nay. Bà D có có nhận các văn bản tố tụng do Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu gửi và có thông báo lại cho anh T. Anh T cũng cho biết đồng ý ly hôn với chị H.

Vợ chồng có nghĩa vụ chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng hạnh phúc. Tòa án tổ chức hòa giải nhiều lần để tạo điều kiện cho anh T và chị H hàn gắn tình cảm, nhưng anh T vắng mặt và không gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án.

Tình trạng vợ chồng anh T và chị H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu tiếp tục duy trì hôn nhân thì khó xây dựng được gia đình hòa thuận, hạnh phúc và bền vững. Xét, cho chị H ly hôn với anh T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[2] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị H và anh T có 01 (một) người con chung tên Nguyễn Thị Cẩm H1, sinh ngày 27/05/2015. Hiện bé H1 đang sinh sống với chị H. Chị H yêu cầu được nuôi dưỡng bé H1 và không yêu cầu anh T cấp dưỡng.

Biên bản ghi nhận ý kiến nguyện vọng của cháu Cẩm H1 có nguyện vọng được sống với chị H.

Theo kết quả xác minh (lấy lời khai bà D) cung cấp: Anh T và chị có 01 con chung tên Nguyễn Thị Cẩm H1. Hiện cháu H1 đang sinh sống với chị H. Anh T đồng ý giao cháu H1 cho chị H nuôi dưỡng con chung.

Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con và nguyện vọng của cháu Cẩm H1, cuộc sống của cháu cũng ổn định. Xét, giao cháu tên Nguyễn Thị Cẩm H1 cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Chị H cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

[3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị H khai, không có không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về án phí, chị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp. Anh T không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm. Theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 147, khoản 2 Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Diệu H.

Chị Trần Thị Diệu H được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

Giấy chứng nhận kết hôn số 32/2015 do Ủy ban nhân dân phường L, thị xã T, tỉnh An Giang cấp ngày 06 tháng 4 năm năm 2015 cho chị Trần Thị Diệu H và anh Nguyễn Văn T không còn giá trị pháp lý.

[2] Về con chung: Chị Trần Thị Diệu H được tiếp tục nuôi dạy con chung tên Nguyễn Thị Cẩm H1, sinh ngày 27/05/2015 cho đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động. Anh T không phải cấp nuôi con chung.

Chị H cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

[3] Về án phí:

Chị Trần Thị Diệu H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007727 ngày 07/03/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. Chị H đã nộp đủ án phí.

Anh Nguyễn Văn T không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

[4] Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị H có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Thời hạn kháng cáo của anh T là 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh An Giang (01);
  • - VKSND TX. Tân Châu (02);
  • - Chi cục THADS TX. Tân Châu (01);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu văn phòng (2);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thùy Dương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2024/HNGĐ-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 60/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: H yêu cầu ly hôn T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger