Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊNTHÀNH

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

---------------

 

Bản án số: 60/2025/HSST

Ngày 16-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Phan Xuân Thọ.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Bảng và bà Nguyễn Thị Hà

Thư ký phiên toà: Ông Phan Thanh Hà – Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành tham gia phiên tòa:

bà Lại Thị Hiền - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 58/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 06 năm 2025 đối với bị cáo:

Phạm Thị P – sinh ngày 20/8/1982 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm L, xã D ( nay là xã X), huyện D, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn V và bà Phạm Thị T (đã chết); có chồng: Ngô Sỹ P1 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ, tạm giam: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/8/2024 đến ngày 10/5/2025. Bị cáo có mặt.

Người bị hại:

Chị Phan Thị D – sinh năm 1995 ( có mặt).

Địa chỉ: xóm G, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Có mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Sỹ G – sinh năm 1972 (xin vắng mặt).

Địa chỉ: xóm N, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 2/2023, do thiếu tiền chi tiêu vào mục đích cá nhân nên Phạm Thị P đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng hình thức đưa ra thông tin gian dối là P có thể chạy thi đậu các kỳ thi tuyển công chức, viên chức của Uỷ ban nhân dân các huyện trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Phạm Thị P gặp và nói với Nguyễn Sỹ G, sinh năm 1972, trú tại Xóm N, xã N, huyện Y (là người quen của P): huyện Y chuẩn bị thi công chức, có trường hợp nào cần giúp đỡ thì em can thiệp được, chỗ khác người ta lấy giá 180.000.000 đồng nhưng chỗ em chỉ lấy 150.000.000 đồng. Anh báo giá cho người ta bao nhiêu thì đó là tiền hoa hồng anh được hưởng. Nếu có ai đồng ý thì chuyển trước tiền cọc là 50.000.000 đồng. Khi có thông báo của Ủy ban nhân dân huyện Y thì chuyển tiếp 50.000.000 đồng, số tiền còn lại khi có kết quả sẽ chuyển nốt. Sau đó, thông qua các trang thông tin điện tử, P đã lấy thông báo thi tuyển viên chức văn hóa của các huyện N, huyện D và danh sách các thí sinh đăng ký dự thi của huyện D gửi cho G để tạo niềm tin. Do có quen biết từ trước với P, quá trình gặp gỡ P luôn nói với G về việc quen biết với những người làm lãnh đạo các sở, ban ngành của tỉnh, huyện nên khi P gửi cho G các thông báo thi tuyển viên chức của các huyện, G tin tưởng P có thể can thiệp được việc trúng tuyển trong kỳ thi tuyển viên chức văn hóa của Ủy ban nhân dân huyện Y nên đồng ý với P nếu ai có nhu cầu sẽ giới thiệu cho P.

Đến khoảng tháng 3/2023, chị Phan Thị D, sinh năm 1995, trú tại: xóm G, xã T, huyện Y có ý định tham gia kỳ thi tuyển viên chức văn hóa của huyện Y được tổ chức vào tháng 8/2023. Chị D đã nhờ chú ruột là Thái Hữu T1, sinh năm 1978, trú tại: xóm F, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An liên lạc với anh Trần Văn T2, sinh năm 1977, trú tại: xã V, huyện Y để tìm người can thiệp cho chị D thi đậu trong kỳ thi đó. Sau đó, anh T2 nhờ G giúp và G đồng ý.

Sau khi được anh T2 giới thiệu, G gọi điện cho P nói: "có đứa cháu của bạn năm ni thi công chức, xem có lo công việc cho cháu được không" (ý G hỏi P có nhận can thiệp cho cháu thi đậu viên chức được không).

P trả lời: "Làm được", đồng thời nói với G: "Bảo họ chuyển tiền cọc để lo việc"

Ngày 26/3/2023, chị Phan Thị D cùng anh Phan Văn T3, sinh năm 1978, trú tại xóm F, xã T, huyện Y (anh T3 là dượng của chị D) và anh Thái Hữu T1 đến gặp Nguyễn Sỹ G tại quán cafe thuộc xã H, huyện Y để trao đổi việc chạy thi đậu viên chức cho chị D. Quá trình nói chuyện, G cam kết nhờ được người chạy cho chị D thi đậu viên chức trong kỳ thi tuyển viên chức văn hóa năm 2023 do Ủy ban nhân dân huyện Y chức, chi phí là 260.000.000 đ (hai trăm sáu mươi triệu đồng). Chị D đồng ý với G về chi phí nói trên. G và chị D thỏa thuận, chị D đưa trước cho G số tiền 50.000.000 đ (năm mươi triệu đồng), khi có thông báo của Ủy ban nhân dân huyện Y về việc mở kỳ thi sẽ đưa tiếp 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) và khi có kết quả trúng tuyển sẽ đưa 160.000.000₫ (một trăm sáu mươi triệu đồng) còn lại. Ngày 27/3/2023, chị D sử dụng số tài khoản 3606205267176 ngân hàng N của mình chuyển khoản trước cho G số tiền 50.000.000 đ (năm mươi triệu đồng) vào số tài khoản 0983930089, ngân hàng V1 của G. G viết giấy nhận tiền bằng hình thức "giấy vay tiền", chị D và G cùng ký tên vào giấy vay tiền, anh T1, anh T2 ký làm chứng.

Ngày 27/3/2024, G gọi điện thoại cho P trao đổi về việc đã nhận số tiền 50.000.000 đ (năm mươi triệu đồng) của chị D chuyển đặt cọc nhờ P chạy thi đậu viên chức, đồng thời nói P gửi số tài khoản để G chuyển số tiền trên cho P. Vì G cần tiền lo việc cá nhân nên G mượn P 10.000.000đ (mười triệu đồng), sẽ chuyển cho P 40.000.000 đ (bốn mươi triệu đồng) thì P đồng ý. Sau đó, G sử dụng số tài khoản 0983930089, ngân hàng V1 chủ tài khoản Nguyen S chuyển đến tài khoản 113355866 ngân hàng TMCP Q Phạm Thị P số tiền 40.000.000 đ (bốn mươi triệu đồng) với nội dung chuyển khoản "NGUYEN SY GIANG chuyển tiền xin việc". Sau khi nhận tiền cọc, P không liên hệ nhờ người chạy thi đậu viên chức cho chị D như thỏa thuận mà sử dụng chi tiêu cá nhân.

Ngày 28/3/2023, G gọi điện nói với chị D cần thêm số tiền 50.000.000 đ (năm mươi triệu đồng) thì chị D đồng ý. Ngày 30/03/2023, chị D đã chuyển đến số tài khoản của G số tiền 50.000.000 đ (năm mươi triệu đồng).

Sau khi nhận tiền G giữ lại số tiền này vì cho rằng đây là tiền công (tiền hoa hồng) G được hưởng.

Ngày 31/7/2023, G tiếp tục gọi điện cho chị D nói chuyển 50.000.000 đ (năm mươi triệu đồng). Chị D đồng ý. Ngày 01/8/2023, chị D đã chuyển đến số tài khoản của G số tiền 50.000.000 đ (năm mươi triệu đồng. Sau khi nhận tiền G giữ lại số tiền này vì cho rằng đây là tiền công (tiền hoa hồng) G được hưởng.

Ngày 31/7/2023, sau khi P vào cổng thông tin điện tử Ủy ban nhân dân huyện Y, biết có thông báo tuyển sinh, P yêu cầu G nói với chị D chuyển thêm số tiền 50.000.000 đ (năm mươi triệu đồng) theo như thỏa thuận trước đó. Sau đó, G gọi điện thoại nói chị D chuyến 50.000.000₫ (năm mươi triệu đồng) để lo công việc, chị D đồng ý. Đến ngày 15/8/2023, chị D sử dụng số tài khoản 5121286895 ngân hàng BIDV của mình chuyển 50.000.000₫ (năm mươi triệu đồng) cho G thông qua số tài khoản 51210001028413 ngân hàng B của anh Trần Văn T2 (G nhờ T2 nhận tiền hộ) như G đã yêu cầu. Sau khi nhận tiền do anh T2 chuyển lại, G gọi điện thoại cho chị P nói đã nhận thêm số tiền 50.000.000₫ (năm mươi triệu đồng) của chị D nhờ chạy thi đậu viên chức, đồng thời nói P gửi số tài khoản để G chuyển tiền. Sau đó, G sử dụng số tài khoản 0983930089, ngân hàng V1 chủ tài khoản Nguyen S chuyển đến tài khoản 113355866 ngân hàng TMCP Q chủ tài khoản Phạm Thị P số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) với nội dung chuyển khoản "NGUYEN SY GIANG Chuyển tiền lo việc cho cháu D Yên thành". Sau khi nhận tiền, P không chạy thi đậu viên chức cho chị D như thỏa thuận mà sử dụng chi tiêu cá nhân. Ngày 26/11/2023, sau khi P vào công thông tin điện tử Ủy ban nhân dân huyện Y xem kết quả kỳ thi tuyển viên chức năm 2023 và biết chị D không trúng tuyển kỳ thi viên chức văn hóa của Ủy ban nhân dân huyện Y tổ chức đợt tháng 8 năm 2023. Lúc này, P gọi điện thoại cho G thông báo kết quả chị D không trúng tuyển đồng thời yêu cầu G liên hệ chị D làm một bộ hồ sơ để phúc khảo kết quả thi và chuẩn bị số tiền 10.000.000 đ (mười triệu đồng) để chạy phúc khảo. Sau đó, P xin G số điện thoại của D để khi cần sẽ liên hệ trực tiếp hướng dẫn cho D. Sau đó, G gọi điện cho chị D trao đổi lại nội dung mà P đã yêu cầu. Theo hướng dẫn của G, chị D cầm theo hồ sơ và số tiền 10.000.000 đ (mười triệu đồng) đến Phòng Nội vụ huyện Y. Lúc này, P nhờ chị Nguyễn Thị T4, sinh năm 1990, trú tại xóm Â, xã T, huyện Y đến gặp chị D lấy hồ sơ và tiền. Do chị T4 không đến được nên chị T4 nhờ anh Trần Văn H (trú tại xóm B, xã X, huyện Y) đến lấy. Sau khi nhận hồ sơ và tiền từ chị D, anh H gửi số tiền 10.000.000 đ (mười triệu đồng) và hồ sơ cho P bằng xe buýt. Ngày 27/11/2023, P gọi điện thoại cho chị D, P giới thiệu là người đã nhận tiền từ G để chạy điểm cho D. P nói với chị D đang nhờ người phúc khảo lại điểm thi cho chị D và nói chị D chờ kết quả. Sau khi nhận hồ sơ và 10.000.000 đ (mười triệu đồng) của chị D, P đưa hồ sơ cất trong tủ của gia đình, không nhờ người phúc khảo cho D như đã hứa và sử dụng hết số tiền vào mục đích cá nhân. Ngày 05/3/2024, chị Phan Thị D đã làm đơn tố cáo gửi đến Công an huyện Y, tỉnh Nghệ An (cũ). Quá trình điều tra, P thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Như vậy, trong thời gian khoảng tháng 2/2023 Phạm Thị P đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản với số tiền là 110.000.000 đồng.

*Vật chứng: Không.

*Về Dân sự: - Bị hại chị Phan Thị D đã nhận được lại tài sản và không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì thêm.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Sỹ G đã trả lại toàn bộ số tiền mà G đã nhận của chị D.

- Chị Phan Thị D yêu cầu Nguyễn Sỹ G trả cho chị D số tiền lãi 5.000.000 đồng của toàn bộ số tiền mà chị D đã chuyển cho anh G. Anh G chưa trả số tiền này cho chị D.

Tại bản cáo trạng số 61/CT-VKS-YT, ngày 08 tháng 05 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành đã truy tố: Phạm Thị P về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Phạm Thị P từ 30 tháng đến 36 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo làm nghề tự do không có tài sản, thu nhập thấp nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại đầy đủ cho bị hại, bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Anh G đã trả lại đầy đủ số tiền cho chị D. Tại phiên tòa chị D không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.

Án Phí: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.

Bị hại chị Phan Thị D đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức án cho bị cáo P.

Bị cáo không tranh luận gì về tội danh, mức hình phạt với Kiểm sát viên.

Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử khoan hồng, cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Vào khoảng tháng 3 năm 2023, Phạm Thị P đã có hành vi đưa ra thông tin giả là P có thể chạy (can thiệp) thi đậu các kỳ thi tuyển công chức, viên chức của Uỷ ban nhân dân các huyện trên địa bàn tỉnh Nghệ An đối với Nguyễn Sỹ G, số tiền chạy thi đậu viên chức cho mỗi trường hợp là 150.000.000 đồng để anh G, chị D tin nhằm mục đích để chiếm đoạt tài sản. Ngày 26/3/2023, chị Phan Thị D đã tin nên thông qua Nguyễn Sỹ G để nhờ Phạm Thị P chạy thi đậu viên chức trong kỳ thi tuyển viên chức văn hóa của huyện Y tổ chức tháng 8/2023 với số tiền 260.000.000 đồng (số tiền chênh lệch là tiền công G được hưởng). Trong khoảng thời gian từ ngày 27/3/2023 đến ngày 15/8/2023, chị D đã lần lượt chuyển cho Nguyễn Sỹ G 04 (bốn) lần tiền với tổng số tiền là 200.000.000 đồng, Nguyễn Sỹ G đã chuyển lại số tiền trên của chị D cho Phạm Thị P hai lần với tổng số tiền 100.000.000 đồng (G chuyển 90.000.000 đồng và G mượn lại của P 10.000.000 đồng).

Ngày 26/11/2023, theo yêu cầu của Phạm Thị P, chị Phan Thị D đã tiếp tục gửi cho Phạm Thị P 10.000.000 đồng tiền mặt.

Sau khi nhận tiền của chị D thì Phạm Thị P dùng vào việc chi tiêu cá nhân. Vậy Phạm Thị P đã chiếm đoạt của chị Phan Thị D với tổng số tiền là 110.000.000 đồng.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đủ cơ sở xác định bị cáo bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của bị hại, giá trị 110.000.000 đồng.

Do đó, bị cáo đã phạm tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự.

Bị cáo lừa đảo chiếm đoạt tài sản giá trị 110.000.000 đồng nên Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn, gây thiệt hại kinh tế và gây tâm lý hoang mang cho quần chúng nhân dân trên địa bàn. Tuy nhiên bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại đầy đủ, kịp thời cho bị hại; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt hình phạt tù với mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, có nơi cư trú rõ ràng, nơi làm việc ổn định, bị cáo có khả năng tự cải tạo, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù và cho bị cáo hưởng án treo.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo làm nghề tự do không có tài sản, thu nhập thấp nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[4] Anh Nguyễn Sỹ G không biết việc P đưa ra thông tin gian dối nhằm chiếm đoạt tiền của D nên không cấu thành tội phạm.

Đối với Nguyễn Thị T4 và Trần Văn H không biết việc Phạm Thị Phương L chị D làm hồ sơ phúc khảo nên không cấu thành tội phạm.

[5] Về Dân sự: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại đầy đủ cho chị D, chị D không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Sỹ G đã trả lại toàn bộ số tiền mà G đã nhận của chị D. Quá trình điều tra chị D yêu cầu anh G trả 5.000.000 đồng tiền lãi nhưng tại phiên tòa chị D không yêu cầu anh G trả 5.000.000 đồng tiền lại nữa nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của của Cơ quan và người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[7] Án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Phạm Thị P 33 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao Phạm Thị P cho Công an xã X giám sát và Ủy ban nhân dân xã X, huyện D, tỉnh Nghệ An giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp Phạm Thị P thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách Phạm Thị P cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc Phạm Thị P phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Án phí: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc Phạm Thị P phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, bị hại;
  • - NCQLNVLQ;
  • - Viện kiểm sát cùng cấp;
  • - Viện kiểm sát tỉnh Nghệ An;
  • - Cơ quan CSĐT tỉnh Nghệ An;
  • - Cơ quan THA hình sự;
  • - UBND xã nơi b/c cư trú;
  • - Chi cục THADS cùng cấp;
  • - TAND tỉnh Nghệ An
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu kết quả.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phan Xuân Thọ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2025/HSST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 60/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hs
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger