Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN ĐỀ

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 11 – 6 – 2025

“V/v Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Huy Tùng.
  2. Bà Hà Ngân Kim Tới.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ông Thị Cành Nha – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.

Ngày 11 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 156/2025/TLST- HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Bà Lê Hoài N, sinh ngày 26/8/1998 (Vắng mặt).
    Địa chỉ: Ấp H, xã N, huyện M, tỉnh S.
  • Bị đơn: Ông Huỳnh Minh P, sinh năm 1997 (Vắng mặt).
    Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh S.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn bà Lê Hoài N trình bày:

Bà Lê Hoài N với ông Huỳnh Minh P kết hôn với nhau vào năm 2021 có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh S cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 33 ngày 19/3/2021.

Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống thường xuyên cãi vả. Cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Hai người ly thân từ tháng 3/2024 đến nay.

Về con chung: Huỳnh Ngọc C, sinh ngày 10/10/2021.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Nay bà Lê Hoài N yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Huỳnh Minh P.
  • Về con chung: Yêu cầu được trực tiếp nuôi con. Ông P không phải cấp dưỡng nuôi con.
  • Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản hòa giải ngày 12/5/2025, ông Huỳnh Minh P trình bày:

Ông Huỳnh Minh P thống nhất với lời trình bày của bà Lê Hoài N về tình trạng hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung. Nhưng ông P không đồng ý ly hôn do còn thương yêu vợ con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay ông Huỳnh Minh P và bà Lê Hoài N đều vắng mặt nhưng nguyên đơn bà N có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt còn ông P thì vắng mặt lần thứ 2 không rõ lý do. Do đó căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt đối với các đương sự.

[2] Về nội dung: Nguyên đơn bà Lê Hoài N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu Toà án cho ly hôn với ông Huỳnh Minh P.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Hoài N với ông Huỳnh Minh P là hôn nhân hợp pháp (hai người có đăng ký kết hôn). Trước khi kết hôn hai người có tìm hiểu nhau trước, kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng đến tháng 3 năm 2024, thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống vợ chồng. Hai người không còn chung sống với nhau từ đó cho đến nay, thời gian ly thân vợ chồng không ai tới lui, quan tâm, chăm sóc nhau. Đối với ông P ông không đồng ý ly hôn với lý do còn thương yêu vợ con nhưng không đưa ra được những chứng cứ thuyết phục. Trong tình cảm vợ chồng phải xây dựng và phát triển từ hai phía. Tại Tòa, trong quá trình hòa giải, bà N cương quyết xin ly hôn bà N cho rằng không còn tình cảm với ông P nữa. Nếu kéo dài cuộc hôn nhân này sẽ làm khổ cho cả hai và làm ảnh hưởng đến con cái. Xét thấy tình trạng hôn nhân của hai người đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó bà N yêu câu được ly hôn với ông P là có căn cứ được quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[4] Về con chung: Huỳnh Ngọc C, sinh ngày 10/10/2021. Hiện con đang sống với bà N. Bà N yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con. Xét thấy yêu cầu của bà N hoàn toàn phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người nuôi con, giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định tại Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[5] Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do bà N yêu cầu nên bà N phải chịu theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  • Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Lê Hoài N.
  • Về hôn nhân: Bà Lê Hoài N được quyền ly hôn với ông Huỳnh Minh P.
  • Về con chung: Giao cháu Huỳnh Ngọc C, sinh ngày 10/10/2021 cho bà Lê Hoài N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ông Huỳnh Minh P không phải cấp dưỡng nuôi con. Ông P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp ông P lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà N có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông P. Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người nuôi con, giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
  • Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
  • Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • + Ông Huỳnh Minh P không phải phải nộp án phí.
    • + Bà Lê Hoài N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000906 ngày 18/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy bà N đã nộp xong án phí.

Án sơ thẩm được xét xử công khai báo cho các đương sự biết có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Trần Đề;
  • - Chi cục THA huyện Trần Đề;
  • - TAND tỉnh Sóc Trăng (P.KTNV&THA);
  • - Các đương sự.
  • - UBND xã Thạnh Thới Thuận, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng;
  • - Lưu HSVA.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Nguyễn Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2025/HNGĐ-ST ngày 11/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 60/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà N yêu cầu ly hôn với ông P
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger