|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 60/2025/HSST Ngày: 16/4/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Ngọc Liên
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Lan Ka
2. Ông Nguyễn Hải Hà
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Nga - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Khánh – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 61/2025/HSST ngày 02/4/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2025/QĐXXST-HS ngày 04/4/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị Thu H, sinh năm: 1975; Giới tính: Nữ; ĐKHKTT và nơi ở: Số A ngách B phố T, quận T, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Không; Văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Hồng K (đã chết) và bà Phạm Thị H1 (đã chết); Chồng: Nguyễn Cửu D; Bị cáo có 02 người con: con lớn sinh năm 2007; con thứ hai sinh năm 2016; Nhân thân: Không có tiền án, tiền sự.
Bị cáo bị bắt ngày 03/8/2024. Ngày 22/01/2025 được Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình hủy bỏ biện pháp tạm giam, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Trần Thị Thúy H2, sinh năm 1975; ĐKHKTT và nơi ở: B Đ, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội. (Có mặt)
- - Ông Phạm Thành V, sinh năm 1955; ĐKHKTT: Tổ dân phố Y, xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội; Nơi ở: Số A khu G, phường P, quận H, thành phố Hà Nội. (Xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty Cổ phần T2 (Sau đây gọi tắt là Công ty T2) được Sở Kế hoạch và đầu tư thành phố H cấp Giấy chứng nhận đăng ký Công ty cổ phần M1 lần đầu ngày 01/12/2009; địa chỉ trụ sở chính tại số C ngách C phố Đ, phường L, quận B, thành phố Hà Nội. Công ty gồm 03 cổ đông sáng lập là Nguyễn Thị Thu H; Phạm Thị H3 (SN 1974; ĐKHKTT và nơi ở: Số C ngách C phố Đ, phường L, quận B, thành phố Hà Nội) và Lê Thị T (SN 1971; ĐKHKTT và nơi ở: Tổ A D, quận C, thành phố Hà Nội). Người đại diện theo pháp luật của Công ty T2 là Nguyễn Thị Thu H - Chức danh: Giám đốc, vốn điều lệ: 3.000.000.000 đồng (Trong đó: H, H3 mỗi người góp: 1.050.000.000 đồng, tương đương 35% vốn điều lệ; T góp 900.000.000 đồng, tương đương 30% vốn điều lệ). Ngành nghề kinh doanh chính là bán buôn thuốc. Mọi hoạt động của Công ty do Nguyễn Thị Thu H trực tiếp điều hành, Phạm Thị H3 góp vốn và có tham gia vào các hoạt động của Công ty như phát triển thị trường, giao nhận hàng hóa, tiền hàng và được hưởng lương hàng tháng theo chế độ của Công ty. Lê Thị T chỉ góp vốn, không tham gia vào các hoạt động của Công ty, không được hưởng lương mà chỉ được hưởng lợi nhuận vào định kỳ do Nguyễn Thị Thu H chi trả.
Từ khi thành lập Công ty T2, Nguyễn Thị Thu H thuê Trần Thị Thúy H2 (SN 1975; ĐKHKTT và nơi ở: B Đ, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội) làm kế toán và được trả lương khoảng 8.000.000 đồng/tháng, cuối năm được thưởng thêm một tháng lương, ngoài ra không được hưởng lợi ích nào khác.
Quá trình hoạt động Công ty T2 xuất bán hàng cho rất nhiều đơn vị trên địa bàn Hà Nội. Công ty T2 lập hai hệ thống sổ theo dõi. Trong đó, một hệ thống sổ được dùng để kê khai với Cơ quan Thuế, một hệ thống sổ nội bộ dùng để theo dõi việc bán hàng thực tế của Công ty. Số lượng hàng hóa bán ra được thống kê tại sổ nội bộ này lớn hơn nhiều lần so với số liệu báo cáo với Cơ quan Thuế và không được xuất hóa đơn bán hàng. Khi giao nhận hàng hóa giữa Công ty T2 với các đơn vị mua hàng có phiếu giao hàng, trên phiếu giao hàng ghi nội dung: Tên hàng hóa, số lượng và tiền hàng, có chữ ký xác nhận của nhân viên Công ty T2 và nhân viên đơn vị mua hàng. Việc thanh toán tiền hàng được thực hiện bằng tiền mặt, không chuyển khoản qua tài khoản Ngân hàng.
Tại hai sổ ghi chép nội bộ có các cột như sau: Cột ngày tháng năm xuất bán hàng, đơn vị mua hàng, mã phiếu bán hàng; cột tên thuốc; cột số lượng; cột chữ ký xác nhận của Trần Thị Thúy H2 và Nguyễn Thị Thu H. Chữ viết, chữ ký trên các sổ nội bộ này do Trần Thị Thúy H2 và Nguyễn Thị Thu H viết, ký.
Đối với đơn vị mua hàng của Công ty T2 xác định có Bệnh viện A (Bệnh viện 16A là bệnh viện Đ) thuộc Công ty TNHH một thành viên A1 (Địa chỉ: Lô A khu G, phường P, quận H, thành phố Hà Nội). Người đại diện theo pháp luật ông Phạm Thành V (SN 1955;, ĐKHKTT và nơi ở: Tổ dân phố Y, xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội), chức danh: Tổng giám đốc. Khi bán hàng cho Bệnh viện A, Công ty T2 chỉ xuất hóa đơn một phần, còn lại không xuất hóa đơn với số lượng lớn, không kê khai với Cơ quan thuế. Hàng hóa do Nguyễn Thị Thu H mua trôi nổi trên thị trường, không có hóa đơn chứng từ. Hàng được giao từ Công ty T2 đến Bệnh viện 16A và được các nhân viên gồm Nguyễn Hoa M, Nguyễn Thị Y thuộc khoa dược Bệnh viện 16A ký nhận vào các phiếu giao hàng. Tiền được thanh toán theo hình thức trả tiền mặt giữa Nguyễn Thị Thu H và ông Phạm Thành V. Số liệu ghi tại 95 phiếu giao hàng giữa hai bên trong năm 2018 thể hiện Công ty T2 đã bán thuốc tân dược cho Bệnh viện 16A, với tổng số tiền hàng là 3.699.838.000 đồng, Công ty T2 đã để ngoài sổ sách, không xuất hóa đơn, không kê khai thuế giá trị gia tăng hàng hóa, dịch vụ bán ra, cụ thể như sau:
| STT | Tài liệu | Ký hiệu | Ngày tháng | Thành tiền (VNĐ) |
|---|---|---|---|---|
| 1 | Phiếu giao hàng | HD 16108 | 03/01/2018 | 80.600.000 |
| 2 | Phiếu giao hàng | HD 16127 | 08/01/2018 | 40.380.000 |
| 3 | Phiếu giao hàng | HD 16143 | 10/01/2018 | 30.000.000 |
| 4 | Phiếu giao hàng | HD 16152 | 12/01/2018 | 76.100.000 |
| 5 | Phiếu giao hàng | HD 16175 | 26/01/2018 | 58.000.000 |
| 6 | Phiếu giao hàng | HD 16187 | 19/01/2018 | 72.600.000 |
| 7 | Phiếu giao hàng | HD 16195 | 22/01/2018 | 46.550.000 |
| 8 | Phiếu giao hàng | HD16208 | 24/01/2018 | 4.200.000 |
| 9 | Phiếu giao hàng | HD 16282 | 09/02/2018 | 75.100.000 |
| 10 | Phiếu giao hàng | HD 16292 | 21/02/2018 | 76.350.000 |
| 11 | Phiếu giao hàng | HD 16336 | 05/03/2018 | 38.640.000 |
| 12 | Phiếu giao hàng | HD 16363 | 09/03/2018 | 2.000.000 |
| 13 | Phiếu giao hàng | HD 16374 | 13/03/2018 | 73.570.000 |
| 14 | Phiếu giao hàng | HD 16389 | 16/03/2018 | 72.450.000 |
| 15 | Phiếu giao hàng | HD 16458 | 30/03/2018 | 41.950.000 |
| 16 | Phiếu giao hàng | HD 16466 | 02/04/2018 | 94.790.000 |
| 17 | Phiếu giao hàng | HD 16631 | 08/05/2018 | 37.300.000 |
| 18 | Phiếu giao hàng | HD 16808 | 07/06/2018 | 3.015.000 |
| 19 | Phiếu giao hàng | HD 16776 | 08/06/2018 | 37.750.000 |
| 20 | Phiếu giao hàng | HD 16794 | 13/06/2018 | 3.600.000 |
| 21 | Phiếu giao hàng | HD 16799 | 13/06/2018 | 18.700.000 |
| 22 | Phiếu giao hàng | HD 16809 | 15/06/2018 | 6.300.000 |
| 23 | Phiếu giao hàng | HD 16813 | 15/06/2018 | 5.025.000 |
| 24 | Phiếu giao hàng | HD 16820 | 18/06/2018 | 55.500.000 |
| 25 | Phiếu giao hàng | HD 16856 | 25/06/2018 | 11.500.000 |
| 26 | Phiếu giao hàng | HD 16877 | 29/06/2018 | 20.800.000 |
| 27 | Phiếu giao hàng | HD 16912 | 06/07/2018 | 16.800.000 |
| 28 | Phiếu giao hàng | HD 17239 | 07/09/2018 | 36.250.000 |
| 29 | Phiếu giao hàng | HD 17254 | 10/09/2018 | 22.300.000 |
| 30 | Phiếu giao hàng | HD 17310 | 20/09/2018 | 43.550.000 |
| 31 | Phiếu giao hàng | HD 17320 | 21/09/2018 | 12.000.000 |
| 32 | Phiếu giao hàng | HD 17355 | 26/09/2018 | 5.025.000 |
| 33 | Phiếu giao hàng | HD 17430 | 08/10/2018 | 41.103.000 |
| 34 | Phiếu giao hàng | HD 17466 | 15/10/2018 | 24.195.000 |
| 35 | Phiếu giao hàng | HD 17555 | 29/10/2018 | 81.800.000 |
| 36 | Phiếu giao hàng | HD 17643 | 09/11/2018 | 42.990.000 |
| 37 | Phiếu giao hàng | HD 17658 | 13/11/2018 | 35.850.000 |
| 38 | Phiếu giao hàng | HD 17712 | 20/11/2018 | 4.500.000 |
| 39 | Phiếu giao hàng | HD 17731 | 23/11/2018 | 58.270.000 |
| 40 | Phiếu giao hàng | HD 17821 | 05/12/2018 | 61.600.000 |
| 41 | Phiếu giao hàng | HD 16159 | 15/01/2018 | 21.400.000 |
| 42 | Phiếu giao hàng | HD 16250 | 05/02/2018 | 53.640.000 |
| 43 | Phiếu giao hàng | HD 16309 | 26/02/2018 | 45.650.000 |
| 44 | Phiếu giao hàng | HD 16356 | 08/03/2018 | 85.420.000 |
| 45 | Phiếu giao hàng | HD 16426 | 26/03/2018 | 42.550.000 |
| 46 | Phiếu giao hàng | HD 16446 | 28/03/2018 | 63.200.000 |
| 47 | Phiếu giao hàng | HD 16473 | 02/04/2018 | 25.000.000 |
| 48 | Phiếu giao hàng | HD 16510 | 09/04/2018 | 57.880.000 |
| 49 | Phiếu giao hàng | HD 17261 | 11/09/2018 | 13.000.000 |
| 50 | Phiếu giao hàng | HD 17281 | 14/09/2018 | 30.850.000 |
| 51 | Phiếu giao hàng | HD 17332 | 24/09/2018 | 29.300.000 |
| 52 | Phiếu giao hàng | HD 17424 | 05/10/2018 | 3.000.000 |
| 53 | Phiếu giao hàng | HD 17487 | 17/10/2018 | 34.900.000 |
| 54 | Phiếu giao hàng | HD 17612 | 05/11/2018 | 57.100.000 |
| 55 | Phiếu giao hàng | HD 17835 | 07/12/2018 | 17.200.000 |
| 56 | Phiếu giao hàng | HD 16149 | 01/11/2018 | 6.100.000 |
| 57 | Phiếu giao hàng | HD 16840 | 22/06/2018 | 33.000.000 |
| 58 | Phiếu giao hàng | HD 17493 | 17/10/2018 | 5.025.000 |
| 59 | Phiếu giao hàng | HD 17518 | 22/10/2018 | 26.900.000 |
| 60 | Phiếu giao hàng | HD 17527 | 23/10/2018 | 17.300.000 |
| 61 | Phiếu giao hàng | HD 17547 | 26/10/2018 | 33.200.000 |
| 62 | Phiếu giao hàng | HD 17692 | 16/11/2018 | 4.020.000 |
| 63 | Phiếu giao hàng | HD 17881 | 17/12/2018 | 9.500.000 |
| 64 | Phiếu giao hàng | HD 16304 | 23/02/2018 | 35.890.000 |
| 65 | Phiếu giao hàng | HD 16350 | 03/07/2018 | 32.450.000 |
| 66 | Phiếu giao hàng | HD 16115 | 05/01/2018 | 37.780.000 |
| 67 | Phiếu giao hàng | HD 16216 | 26/01/2018 | 66.820.000 |
| 68 | Phiếu giao hàng | HD 16225 | 29/01/2018 | 71.100.000 |
| 69 | Phiếu giao hàng | HD 16237 | 01/02/2018 | 92.540.000 |
| 70 | Phiếu giao hàng | HD 16321 | 01/03/2018 | 123.530.000 |
| 71 | Phiếu giao hàng | HD 16407 | 21/03/2018 | 31.510.000 |
| 72 | Phiếu giao hàng | HD 16416 | 23/03/2018 | 49.350.000 |
| 73 | Phiếu giao hàng | HD 16606 | 02/05/2018 | 49.600.000 |
| 74 | Phiếu giao hàng | HD 16619 | 04/05/2018 | 27.300.000 |
| 75 | Phiếu giao hàng | HD 16785 | 11/06/2018 | 45.000.000 |
| 76 | Phiếu giao hàng | HD 16802 | 14/06/2018 | 29.250.000 |
| 77 | Phiếu giao hàng | HD 16832 | 20/06/2018 | 40.600.000 |
| 78 | Phiếu giao hàng | HD 16865 | 27/06/2018 | 81.900.000 |
| 79 | Phiếu giao hàng | HD 16886 | 02/07/2018 | 29.060.000 |
| 80 | Phiếu giao hàng | HD 16906 | 05/07/2018 | 25.500.000 |
| 81 | Phiếu giao hàng | HD 17218 | 04/09/2018 | 28.940.000 |
| 82 | Phiếu giao hàng | HD 17359 | 27/09/2018 | 37.050.000 |
| 83 | Phiếu giao hàng | HD 17410 | 04/10/2018 | 46.950.000 |
| 84 | Phiếu giao hàng | HD 17460 | 11/10/2018 | 69.500.000 |
| 85 | Phiếu giao hàng | HD 17584 | 01/11/2018 | 33.900.000 |
| 86 | Phiếu giao hàng | HD 17697 | 19/11/2018 | 39.150.000 |
| 87 | Phiếu giao hàng | HD 17743 | 26/11/2018 | 20.000.000 |
| 88 | Phiếu giao hàng | HD 16231 | 30/01/2018 | 6.000.000 |
| 89 | Phiếu giao hàng | HD 16394 | 19/3/2018 | 67.300.000 |
| 90 | Phiếu giao hàng | HD 16498 | 06/04/2018 | 34.050.000 |
| 91 | Phiếu giao hàng | HD 16521 | 10/04/2018 | 29.500.000 |
| 92 | Phiếu giao hàng | HD 16526 | 10/04/2018 | 4.000.000 |
| 93 | Phiếu giao hàng | HD 17271 | 12/09/2018 | 44.950.000 |
| 94 | Phiếu giao hàng | HD 17676 | 15/11/2018 | 41.050.000 |
| 95 | Phiếu giao hàng | 17371 | 01/10/2018 | 44.180.000 |
| Tổng | 3.699.838.000 | |||
* Cơ quan điều tra đã thu giữ các chứng từ, tài liệu gồm:
- - Thu giữ của Phạm Thị H3: 02 (Hai) quyển sổ ghi chép nội bộ của Công ty T2; 172 phiếu giao hàng; 15 báo cáo bán hàng nhóm theo hai chỉ tiêu.
- - Thu giữ của Trần Thị T1 là: 01 (Một) máy tính cá nhân nhãn hiệu ASUS VivoBook 15.
- - Khám xét nơi ở, nơi làm việc của Nguyễn Thị Thu H, Nguyễn Hoa M, Nguyễn Thị Y không thu giữ đồ vật tài liệu gì.
- - Khám xét nơi ở, nơi làm việc của ông Phạm Thành V tạm giữ 07 (bảy) quyển sổ ghi chép viết tay nghi có liên quan số hàng là thuốc tân dược đã mua của Công ty T2.
*Tại Cơ quan điều tra:
- - Nguyễn Thị Thu H khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
- - Ông Phạm Thành V trình bày: Ông V có mua hàng hóa là thuốc tân dược của Công ty T2, việc thanh toán thực hiện bằng tiền mặt, không lấy hóa đơn. Mục đích ông V dự định sẽ bán lại cho Bệnh viện để hưởng lợi trực tiếp, không phải chia lợi nhuận cho các thành viên khác trong Công ty. Tuy nhiên thời điểm đó, quầy thuốc của bệnh viện không bán được các mặt hàng này nên ông V không bán lại cho bệnh viện được. Sau một thời gian, do hạn sử dụng của thuốc hết nên ông V đã mang vứt đi, không còn lưu giữ tại Bệnh viện.
Tại Kết luận giám định số 1560 ngày 23/02/2021 của Phòng K1 - Công an thành phố H, kết luận:
- Chữ ký, chữ viết trên hai quyển sổ ghi chép viết tay là do Trần Thị Thúy H2 và Nguyễn Thị Thu H ký ra, viết ra.
- Chữ ký, chữ viết trên các phiếu giao hàng do Trần Thị Thúy H2 và nhân viên Công ty A1 (Nguyễn Thị Y, Nguyễn Hoa M) ký ra, viết ra.
- Ngoài ra, kết quả giám định một số tài liệu (sổ ghi chép viết tay thu giữ tại nơi ở, nơi làm việc của ông Phạm Thành V, một số chữ ký, chữ viết trên sổ ghi chép nội bộ, phiếu giao hàng...) chưa đủ cơ sở để kết luận.
Tại Kết luận giám định ngày 31/12/2024 của Giám định tư pháp - Cục thuế thành phố H, kết luận:
- + Về thuế Giá trị gia tăng: Công ty cổ phần T2 có hành vi trốn thuế, số tiền trốn thuế là 171.893.087 đồng.
- + Về thuế thu nhập doanh nghiệp: Chưa đủ cơ sở xác định thu nhập tính thuế TNDN phải nộp của Công ty cổ phần T2.
Công ty T2 đã có hành vi để ngoài sổ sách, không xuất hóa đơn, không kê khai thuế giá trị gia tăng hàng hóa, dịch vụ bán ra, làm giảm số thuế phải nộp và trốn thuế GTGT số tiền là 171.893.087 đồng.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh đối với việc mua hàng hóa là thuốc tân dược của Bệnh viện A, không phát hiện thu giữ được sổ sách, tài liệu gì liên quan đến số hàng hóa theo 95 Phiếu giao hàng với Công ty T2.
Tài khoản Ngân hàng của Công ty T2 và tài khoản Ngân hàng của Nguyễn Thị Thu H không có khoản tiền nào nhận chuyển khoản thanh toán tiền bán thuốc cho Bệnh viện 16A hoặc ông Phạm Thành V theo 95 phiếu giao hàng nêu trên. Mặt khác, Cơ quan điều tra không phát hiện thu giữ được tài liệu gì chứng minh ông Phạm Thành V bán lại các mặt hàng đã mua của Công ty T2 cho Bệnh viện 16A hay bán cho các đơn vị khác.
Như vậy, kết quả điều tra đến nay xác định Nguyễn Thị Thu H lợi dụng pháp nhân Công ty T2 để thực hiện việc mua hàng hóa là thuốc tân dược trôi nổi trên thị trường rồi bán lại cho Bệnh viện 16A do ông Phạm Thành V mua với tư cách cá nhân, không xuất hóa đơn bán hàng, để ngoài sổ sách không kê khai với Cơ quan thuế. Tổng số tiền hàng hóa đã bán là 3.699.838.000 đồng để trốn thuế với số tiền là 171.893.087 đồng.
Đối với Trần Thị Thúy H2: Quá trình điều tra xác định H2 là kế toán của Công ty T2 có hành vi ghi chép sổ nội bộ, để ngoài sổ sách hàng hóa bán ra không xuất hóa đơn bán hàng, không kê khai với Cơ quan thuế. Tuy nhiên, H2 là người làm thuê, hưởng lương, thực hiện theo chỉ đạo của Nguyễn Thị Thu H, không được hưởng lợi ích gì từ việc Công ty T2 trốn thuế. Hành vi của Trần Thị Thúy H2 tuy có dấu hiệu của tội trốn thuế với vai trò giúp sức cho Nguyễn Thị Thu H nhưng xét thấy tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể. Căn cứ quy định tại Khoản 2 Điều 8 Bộ luật Hình sự, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý trách nhiệm hình sự đối với Trần Thị Thúy H2.
Đối với ông Phạm Thành V - Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH một thành viên A1: Quá trình điều tra xác định ông Phạm Thành V có hành vi mua hàng của Công ty T2, không lấy hóa đơn. Tuy nhiên, ông V dùng tiền cá nhân để mua hàng, không có tài liệu chứng minh việc ông Vận B lại hàng cho Bệnh viện A hay bán cho đơn vị khác nên không đủ căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự của ông V về hành vi trốn thuế.
Đối với Nguyễn Thị Y và Nguyễn Hoa M là nhân viên của Bệnh viện 16A thực hiện việc nhận hàng hộ ông Phạm Thành V nhưng không được hưởng lợi gì nên không xem xét trách nhiệm hình sự.
* Ngoài hành vi phạm tội trốn thuế của Nguyễn Thị Thu H, quá trình điều tra, ngày 13/12/2023 Cơ quan điều tra tiếp nhận đơn tố giác của chị Nguyễn Hoa M (ĐKHKTT và nơi ở: TDP Đ, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội) và chị Lê Thị T (ĐKHKTT và nơi ở: C ngõ D T, quận C, thành phố Hà Nội) tố cáo Nguyễn Thị Thu H có hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Quá trình điều tra xác định việc vay mượn tiền giữa chị Lê Thị T, chị Nguyễn Hoa M với Nguyễn Thị Thu H là quan hệ dân sự nên Cơ quan điều tra đã hướng dẫn chị T và chị M khởi kiện ra Tòa án để giải quyết tranh chấp.
Tại Cáo trạng số: 30/CT - VKS ngày 19 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội truy tố Nguyễn Thị Thu H về tội “Trốn thuế” quy định tại điểm b, c khoản 1 Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Thu H đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, đã khắc phục một phần hậu quả và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Kiểm sát viên - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình phát biểu quan điểm đưa vụ án và đưa ra những chứng cứ, lý lẽ kết luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về hành vi phạm tội “Trốn thuế”, quy định tại điểm b, c Khoản 1 Điều 200 Bộ luật Hình sự. Xét nhân thân bị cáo Nguyễn Thị Thu H không có tiền án, tiền sự. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội nên cần thiết áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đề nghị về hình phạt: Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 200; Điều 38; Điều 47; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thu H mức án từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Thị Thu H phải truy thu số tiền trốn thuế là 141.893.087 đồng.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận B, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, tài liệu chứng cứ thu giữ được trong hồ sơ vụ án, phù hợp với kết luận giám định. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 01/2018 đến 11/2018, Công ty Cổ phần T2 do Nguyễn Thị Thu H làm Giám đốc và là người đại diện theo pháp luật đã có hành vi để ngoài sổ sách, không xuất hóa đơn, không kê khai thuế giá trị gia tăng hàng hóa, dịch vụ bán ra của 95 phiếu giao hàng cho Công ty TNHH một thành viên A1 (do ông Phạm Thành V đại diện mua với tư cách cá nhân), làm giảm số thuế phải nộp và trốn thuế GTGT với tổng số tiền là 171.893.087 đồng.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Thu H đủ yếu tố cấu thành tội “Trốn thuế” theo quy định tại điểm b, c khoản 1 Điều 200 Bộ luật Hình sự Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ đúng pháp luật.
[3] Đánh giá tính chất mức độ, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt: Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được việc trốn thuế của mình bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với chế độ quản lý thuế, gây thất thu ngân sách Nhà nước ảnh hưởng xấu đến tình hình phát triển kinh tế, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần phải xử phạt nghiêm đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng cũng như phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo. Bị cáo đã khắc phục một phần hậu quả, xác nhận bị cáo đã nộp 30.000.000 đồng. Khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo đã bị tạm giam từ ngày 03/8/2024 đến ngày 22/01/2025 là đủ thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định mức hình phạt của bị cáo bằng thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/8/2024 đến ngày 22/01/2025.
Đối với các cá nhân mua hàng với Công ty Cổ phần T2 nhưng không thực hiện đúng quy định của pháp luật về thuế. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B đã có Công văn gửi Cục Thuế thành phố H chỉ đạo các đơn vị nghiệp vụ tăng cường kiểm tra đối với các doanh nghiệp kinh doanh thương mại nói chung và các doanh nghiệp kinh doanh dược phẩm, trang thiết bị y tế, vật tư tiêu hao nói riêng trong việc chấp hành nghĩa vụ thuế nhằm phát hiện, xử lý và phòng ngừa chung.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Thị Thu H phải truy thu số tiền trốn thuế là 141.893.087 đồng.
[6]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Xử:
- Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 200; Điều 38; Điều 47; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 136, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu H phạm tội “Trốn thuế”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thu H 05 (Năm) tháng 19 (Mười chín) ngày tù kể từ ngày 03/8/2024 đến ngày 22/01/2025.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Thị Thu H phải truy thu số tiền trốn thuế là 141.893.087 (Một trăm bốn mươi mốt triệu, tám trăm chín mươi ba nghìn, không trăm tám mươi bảy đồng).
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Thu H phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đinh Ngọc Liên |
Bản án số 60/2025/HSST ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trốn thuế (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 60/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trốn thuế (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án Nguyễn Thị Thu Huyền phạm tội trốn thuế
