Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 08/4/2025

V/v "Tranh chấp ly hôn "

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Bảo Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trần Hiếu

Ông Phạm Văn Nhiều

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Phong Lan - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Lâm Thành Them - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 143/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2025/QĐXXST ngày 20 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Mỹ D, sinh năm 2002

Địa chỉ: Khu V T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.

- Bị đơn: Ông Kim T, sinh năm 1977

Địa chỉ: 2, Geumsan-myeon, Goheung-gun, J-do, Hàn Quốc.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Bùi Thị Mỹ D trình bày và yêu cầu:

Trước đây, được sự chấp thuận của gia đình hai bên bà và ông Kim T đã chính thức kết hôn, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân quận T, thành phố Cần Thơ (Việt Nam) theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 364 ngày 13/11/2023. Sau khi kết hôn, bà có sang Hàn Quốc sinh sống được thời gian ngắn thì mâu thuẫn gia đình phát sinh. Bà và ông Kim T do bất đồng quan điểm sống với nhau làm cho tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, không hàn gắn được. Sau đó bà trở về Việt Nam sinh sống và làm việc cho đến nay. Từ đó bà và ông Kim T chỉ còn liên lạc với nhau qua điện thoại nhưng vẫn không hòa hợp được. Thiết nghĩ nếu kéo dài cuộc hôn nhân (vợ chồng ở hai quốc gia) cũng không có được hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Kim T.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: không có nên không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn là ông Kim T vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không thu thập được ý kiến của ông.

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tại phiên tòa: Những người tiến hành tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xét xử vụ án. Về nội dung vụ án nhận thấy: Do hai bên bất đồng quan điểm sống nên phát sinh mâu thuẫn, sau khi kết hôn chỉ chung sống thời gian ngắn. Do tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án chấp nhận cho bà Bùi Thị Mỹ D được ly hôn với ông Kim T.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn khai không có nên không xem xét giải quyết, nếu có phát sinh tranh chấp tách thành vụ kiện khác khi đương sự có yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Bùi Thị Mỹ D khởi kiện xin ly hôn với ông Kim T cư trú tại Hàn Quốc nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 37 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bà D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, còn ông Kim T đã được Tòa án tống đạt thông báo hợp lệ về thời gian mở phiên tòa nhiều lần nhưng vắng mặt không lý do. Vì vậy, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là có căn cứ.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Mỹ D và ông Kim T tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân quận T, thành phố Cần Thơ (Việt Nam) theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 364 ngày 13/11/2023 nên xác định là hôn nhân hợp pháp. Theo bà Mỹ D trình bày, sau khi kết hôn, bà sang Hàn Quốc sinh sống với ông Kim T được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn gia đình do bất đồng quan điểm, không hòa hợp được dẫn đến ly thân.

Xét thấy, giữa bà Mỹ D và ông Kim T sau khi kết hôn, hai người chỉ chung sống được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, bà Mỹ D trở về Việt Nam sinh sống, còn ông Kim T thì ở lại Hàn Quốc. Bà Mỹ D và ông Kim T mỗi người ở một quốc gia, không cùng chung sống, tình cảm phai nhạt, không có biện pháp hàn gắn quan hệ hôn nhân. Do đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho bà Mỹ D được ly hôn với ông Kim T là phù hợp theo quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Bà Mỹ D khai không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét, nếu có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác khi có yêu cầu.

[4] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng và lệ phí ủy thác, chi phí thông báo tố tụng, nguyên đơn phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 153, khoản 2 Điều 227, khoản 6 Điều 477, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị Mỹ D.
    • - Về hôn nhân: Bà Bùi Thị Mỹ D được ly hôn với ông Kim T.
    • - Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Mỹ D khai không có nên không xem xét giải quyết.
  2. Án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Bùi Thị Mỹ D phải chịu 300.000đ, nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm bà Mỹ D đã nộp theo Biên lai thu số 0000484 ngày 24 tháng 6 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ, bà Mỹ D đã nộp đủ tiền án phí.
  3. Về chi phí tố tụng: Bà Bùi Thị Mỹ D phải chịu 200.000 đồng lệ phí ủy thác tư pháp nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp 200.000 đồng theo Biên lai thu số 0000520 ngày 08/7/2024 của Cục thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. Bà Mỹ D còn phải chịu chi phí đăng thông báo tố tụng cho Kim T. Bà Mỹ D đã nộp đủ chi phí tố tụng.
  4. Về quyền kháng cáo: Bà Bùi Thị Mỹ D có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết; Ông Kim T được quyền kháng cáo trong hạn 30 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt, thông báo hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật, để yêu cầu Tòa án nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm theo luật định./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

3

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND TPCT;
  • - Cục THA DS TPCT;
  • - UBND Q Thốt Nốt;
  • - Lưu hồ sơ vụ án

Võ Bảo Anh

4

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2025/HNGĐ-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 60/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger