TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 60/2025/HS-ST Ngày: 25-3-2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Mạnh Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Ngô Kim Thành.
- Bà Vũ Thị Thanh Hoa.
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Huyền Thương- Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Bùi Ngọc Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2025 tại Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 43/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Ngọc C, sinh ngày 03-4-1991 tại tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: số C T, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Ngọc C1 và bà Đỗ Thị Song H; có vợ là Hoàng Thị Thu H1 (đã ly hôn) và có 01 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 29-9-2015, Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 27 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích (Đã xoá án tích). Ngày 02-6-2020, Công an thành phố N ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau gây thương tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15-12-2024 đến ngày 24-12-2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Trần Hoài N, sinh năm 1993; địa chỉ: số B đường T, phường Q, thành phố N, tỉnh Nam Định. Vắng mặt.
- Chị Vũ Thị K, sinh năm 1981; địa chỉ: số I đường N, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định. Vắng mặt.
- Bà Vũ Thị H2, sinh năm 1954; địa chỉ: thôn A, xã Đ, huyện V, tỉnh Nam Định. Vắng mặt.
- Chị Trần Thị Tuyết V, sinh năm 1982; địa chỉ: số A đường N, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trên cơ sở tố giác của quần chúng nhân dân về việc Vũ Ngọc C có hành vi cho vay lãi nặng trên địa bàn thành phố N, ngày 14-12-2024 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N triệu tập Vũ Ngọc C đến làm việc. Tại cơ quan điều tra, Vũ Ngọc C đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như sau:
Do không có việc làm ổn định, bị cáo Vũ Ngọc C nảy sinh ý định và thực hiện hành vi cho khách vay tiền với lãi suất cao để hưởng lợi bất chính. Trong khoảng thời gian từ tháng 12-2023 đến tháng 12-2024, Vũ Ngọc C không đăng ký kinh doanh trong lĩnh vực tín dụng nhưng vẫn hoạt động cho vay với lãi suất cao để thu lợi bất chính. Chính đã cho 04 người vay tiền với các lãi suất là 6.000 đồng/ 01 triệu đồng/ 01 ngày (tương ứng mức lãi suất 219%/ 01 năm), 7.000 đồng/ 01 triệu đồng/ 01 ngày ngày (tương ứng mức lãi suất 255,5%/ 01 năm) và 10.000 đồng/ 01 triệu đồng/ 01 ngày (tương ứng mức lãi suất 365%/ 01 năm) vượt quá 5 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 là 20%/01 năm, cụ thể như sau:
Trường hợp thứ nhất:
Ngày 03-02-2024 anh Trần Hoài N, sinh năm 1993, trú tại B đường T, phường Q, thành phố N, tỉnh Nam Định vay của C số tiền 20.000.000 đồng với lãi suất là 6000 đồng/ 01 triệu đồng/ 01 ngày (tương ứng mức lãi suất 219%/ 01 năm), một tháng (được làm tròn 30 ngày) phải trả số tiền lãi cho C là 3.600.000 đồng, trả lãi trước vào đầu kỳ. Chính thu trước tiền lãi tháng đầu là 3.600.000 đồng và 1.000.000 đồng chiếm hưởng từ tiền gốc với lý do là tiền phí xăng xe đi lại. Số tiền còn lại 15.400.000 đồng C chuyển khoản từ số tài khoản 2229156789 ngân hàng M mang tên Vu Ngoc C2 của C đến số tài khoản 0947018586 ngân hàng V1 mang tên Tran Hoai N1 của anh N1. Ngày 02-7-2024, anh N1 trả cho C 10.000.000 đồng tiền gốc, tuy nhiên đến ngày 08-7-2024, anh N1 vay lại của C 10.000.000 đồng để giải quyết công việc cá nhân. Việc vay này không làm thay đổi tiền lãi mà anh N1 phải trả cho
C trong kỳ trả lãi tháng 7-2024. Khoản vay này, C chuyển khoản lại 9.500.000 đồng cho anh N1, C đã lấy thêm từ tiền gốc số tiền là 500.000 đồng với lý do là tiền xăng xe đi lại. Đến thời điểm bị phát hiện, anh N1 đã trả cho C 11 kỳ (330 ngày) tiền lãi là 39.600.000 đồng tiền lãi 11 tháng. Hiện anh N1 vẫn nợ C số tiền gốc là 20.000.000 đồng. Khi vay tiền, C không yêu cầu anh N1 viết giấy vay tiền hay đặt cọc, thế chấp lại giấy tờ, tài sản gì. Đến kỳ trả lãi, anh N1 trả cho C bằng hình thức chuyển khoản ngân hàng qua tài khoản trên của C.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, lãi suất cho vay theo thỏa thuận không vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay. Số tiền lãi tối đa cho phép trong trường hợp này là 20.000.000 đồng x 20% : 365 x 330 = 3.616.438 đồng. Số tiền Vũ Ngọc C thu lợi bất chính đối với khoản vay này là 39.600.000 đồng - 3.616.438 đồng = 35.983.562 đồng và 1.500.000 đồng chiếm hưởng từ việc cắt trực tiếp vào số tiền gốc với lý do thu tiền xăng xe. Tổng số tiền C thu lợi bất chính đối với khoản vay của anh N1 là 37.483.562 đồng.
Trường hợp thứ hai:
Ngày 16-4-2024, chị Vũ Thị K, sinh năm 1981, trú tại 9 đường N, phường V, thành phố N vay của C số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất là 7000 đồng/ 01 triệu đồng/ 01 ngày (tương ứng mức lãi suất 255,5%/ 01 năm), một tháng (được làm tròn 30 ngày) chị K sẽ phải trả số tiền lãi cho C là 2.100.000 đồng, trả lãi trước vào đầu kỳ. Chính yêu cầu chị K viết một giấy vay tiền điền các nội dung (thông tin cá nhân, số tiền vay) và giao lại cho C. Chính thu trước tiền lãi tháng đầu là 2.100.000 đồng và lấy thêm 500.000 đồng từ tiền gốc với lý do là tiền phí xăng xe đi lại. Số tiền còn lại 7.400.000 đồng C chuyển khoản từ số tài khoản 2229156789 ngân hàng M mang tên Vu Ngoc C2 của C đến số tài khoản 19034412950014 ngân hàng T2 mang tên Vu Thi K1 của chị K. Đến thời điểm phát hiện, chị K đã trả cho C 08 tháng (240 ngày) tiền lãi là 16.800.000 đồng. Hiện chị K vẫn nợ C số tiền gốc là 10.000.000 đồng. Đến kỳ trả lãi, chị K trả cho C bằng hình thức chuyển khoản ngân hàng qua tài khoản trên của C.
Theo quy định tại khoản 1 điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, lãi suất cho vay theo thỏa thuận không vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay. Số tiền lãi tối đa cho phép trong trường hợp này là 10.000.000đồng x 20% : 365 x 240 = 1.315.068 đồng. Số tiền Vũ Ngọc C thu lợi bất chính đối với khoản vay này là 16.800.000đồng - 1.315.068 đồng = 15.484.932 đồng và 500.000 đồng chiếm hưởng từ tiền gốc với lý do thu tiền xăng xe. Tổng số tiền C thu lợi bất chính đối với khoản vay của chị K là 15.984.932 đồng.
Trường hợp thứ ba:
Ngày 09-12-2023 bà Vũ Thị H2, sinh năm 1954, trú tại thôn A, xã Đ, huyện V, tỉnh Nam Định nhờ chị Trần Thị Minh T, sinh năm 1958, trú tại 7 đường H, phường V, thành phố N giới thiệu C để vay tiền. Chính cho bà H2 vay số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất là 6000 đồng/ 01 triệu đồng/ 01 ngày (tương ứng mức lãi suất 219%/ 01 năm), một tháng (được làm tròn 30 ngày) sẽ phải trả số tiền lãi cho C là 1.800.000 đồng, trả lãi trước vào đầu kỳ. Chính thu trước tiền lãi tháng đầu là 1.800.000 đồng. Số tiền còn lại 8.200.000 đồng C chuyển khoản từ số tài khoản 2229156789 ngân hàng M1 mang tên Vu Ngoc C2 của C đến số tài khoản 0912603581 ngân hàng M1 mang tên Tran Thi Minh T1 của chị T (do bà H2 không có tài khoản ngân hàng nên nhờ chị T nhận hộ tiền). Sau đó, chị T rút số tiền này đưa cho bà H2. Đến nay, bà H2 đã trả cho C 11 tháng (330 ngày) tiền lãi là 19.800.000 đồng. Sau kỳ trả lãi thứ 11, bà H2 do khó khăn về kinh tế nên đã nhờ chị T xin C không thu lãi nữa chỉ thu tiền gốc, C đồng ý. Hiện bà H2 vẫn nợ C số tiền gốc là 10.000.000 đồng. Khi vay tiền, C không yêu cầu bà H2 viết giấy vay tiền hay đặt lại giấy tờ, tài sản gì. Đến kỳ trả lãi, bà H2 trả cho C bằng hình thức chuyển khoản ngân hàng thông qua tài khoản của chị T. Quá trình vay, chị T không liên quan và không hưởng lợi từ hoạt động cho vay của Vũ Ngọc C.
Theo quy định tại khoản 1 điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, lãi suất cho vay theo thỏa thuận không vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay. Số tiền lãi tối đa cho phép trong trường hợp này là 10.000.000 đồng x 20% : 365 x 330 = 1.808.219 đồng. Số tiền Vũ Ngọc C thu lợi bất chính đối với khoản vay của bà H2 là 19.800.000 đồng - 1.808.219 đồng = 17.991.781 đồng.
Trường hợp thứ tư:
Chị Trần Thị Tuyết V, sinh năm 1982, trú tại 1 N, phường V, thành phố N. Chính cho chị V vay hai lần như sau:
Lần thứ nhất: Ngày 23-4-2024, chị V nhờ chị Vũ Thị K, sinh năm 1981, trú tại 1 N, phường V, thành phố N giới thiệu C để vay tiền. Thông qua điện thoại, chị V vay của C số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất là 10.000 đồng/ 01 triệu đồng/ 01 ngày (tương ứng mức lãi suất 365%/ 01 năm), một tháng (được làm tròn 30 ngày) sẽ phải trả số tiền lãi cho C là 3.000.000 đồng, trả lãi trước vào đầu kỳ. Chính yêu cầu chị V viết một giấy vay tiền điền các nội dung (thông tin cá nhân, số tiền vay) đưa cho chị K và giao lại cho C. Chính thu trước tiền lãi tháng đầu là 3.000.000 đồng và lấy thêm 500.000 đồng từ tiền gốc với lý do tiền phí xăng xe đi lại. Số tiền còn lại 6.500.000 đồng C chuyển khoản từ số tài khoản 2229156789 ngân hàng M1 mang tên Vu Ngoc C2 của C đến số tài khoản 19034412950014 ngân hàng T2 mang tên Vu Thi K1 của chị K (do chị V không có tài khoản ngân hàng nên nhờ chị K nhận hộ tiền). Chị K rút số tiền này đưa cho chị V. Đối với khoản vay này, chị V đã trả cho C 06 tháng (180
ngày) tiền lãi là 18.000.000 đồng . Sau kỳ trả lãi thứ 6, chị V đã đi khỏi địa phương nên C không thu lãi của chị V nữa. Hiện chị V vẫn nợ C số tiền gốc là 10.000.000 đồng. Theo quy định tại khoản 1 điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, lãi suất cho vay theo thỏa thuận không vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, số tiền lãi tối đa cho phép trong trường hợp này là 10.000.000 đồng x 20% : 365 x 180 = 986.301 đồng. Số tiền Vũ Ngọc C chiếm hưởng bất hợp pháp trong trường hợp này là 18.000.000 đồng - 986.301 đồng = 17.013.699 đồng và 500.000 đồng chiếm hưởng từ việc cắt trực tiếp vào số tiền gốc cho vay với lý do thu tiền xăng xe. Số tiền C thu lợi bất chính đối với khoản vay của chị V lần thứ nhất là 17.513.699 đồng.
Lần thứ hai: Ngày 28-09-2024, do có nhu cầu tiếp tục vay, chị V nhờ chị K gọi điện vay C số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất là 10.000 đồng/ 01 triệu đồng/ 01 ngày (tương đương 365%/ 01 năm), một tháng (được làm tròn 30 ngày) sẽ phải trả số tiền lãi cho C là 3.000.000 đồng, trả lãi trước vào đầu kỳ. Chính thu trước tiền lãi tháng đầu là 3.000.000 đồng và lấy thêm 1.000.000 đồng từ việc cắt trực tiếp vào số tiền gốc với lý do thu tiền xăng xe. Số tiền còn lại 6.000.000 đồng Chính chuyển khoản cho chị K đưa cho chị V. Đối với khoản vay này, chị V đã trả cho C 01 tháng (30 ngày) tiền lãi là 3.000.000 đồng tiền lãi 01 tháng. Theo quy định tại khoản 1 điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, lãi suất cho vay theo thỏa thuận không vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, số tiền lãi tối đa cho phép trong trường hợp này là 10.000.000 đồng x 20% : 365 x 30 = 164.384 đồng. Số tiền Vũ Ngọc C chiếm hưởng bất hợp pháp trong trường hợp này là 3.000.000 đồng – 164.384 đồng = 2.835.616 đồng và 1.000.000 đồng chiếm hưởng từ việc cắt trực tiếp tiền vào số tiền gốc cho vay với lý do thu tiền xăng xe. Số tiền C thu lợi bất chính đối với khoản vay của chị V lần thứ hai là 3.835.616 đồng.
Như vậy, Vũ Ngọc C cho chị Trần Thị Tuyết V vay hai lần với tổng số tiền là 20.000.000 đồng, số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 17.513.699 đồng + 3.835.616 đồng = 21.349.315 đồng.
Các lần chị V vay tiền, chị K không hưởng lợi gì từ hoạt động cho vay của Vũ Ngọc C. Thời gian chị V đi khỏi địa phương, chị K đã trả hộ cho chị V số tiền gốc là 10.000.000 đồng nên C không thu lãi đối với khoản vay này nữa.
Qua 04 trường hơp cho vay trên, tổng số tiền gốc Vũ Ngọc C đã cho vay là 60.000.000 đồng. Tổng số tiền lãi mà C đã thu thực tế từ những người cho vay là 100.700.000 đồng, trong đó số tổng tiền lãi tối đa cho phép theo quy định của Bộ luật Dân sự là 7.890.410 đồng. Số tiền lãi Vũ Ngọc C đã thu lợi bất chính khi cho vay là 89.309.590 đồng. Ngoài số tiền hưởng lợi từ hoạt động thu lai đối với các khoản vay, Vũ Ngọc C còn thu lợi từ việc cắt trực tiếp vào số tiền gốc khi cho các cá nhân trên vay với lý do tiền “xăng xe đi lại” với tổng số tiền là 3.500.000 đồng. Như vậy
tổng số tiền C thu lợi bất hợp pháp là 100.700.000 đồng - 7.890.410 đồng = 92.809.590 đồng.
Tại Cơ quan điều tra Công an Thành phố N anh Trần Hoài N, chị Vũ Thị K, bà Vũ Thị H2, chị Trần Thị Tuyết V khai báo phù hợp với các tài liệu, chứng cư cơ quan điều tra thu thập được.
- Vật chứng thu giữ trong vụ án: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N tiến hành thu giữ của C 01 chiếc điện thoại Iphone 13 Pro Max, màu xanh (đã qua sử dụng) bên trong có lắp 01 sim điện thoại số 0854.186.xxx và các bản sao kê tài khoản ngân hàng mở tại Ngân hàng M số 2229156789 của Vũ Ngọc C; các sao kê ngân hàng của anh Trần Hoài N, chị Vũ Thị K, chị Trần Thị Minh T đều có thể hiện các nội dung giao dịch chuyển tiền cho vay, trả lãi phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và bị cáo Vũ Ngọc C. Ngoài ra, Cơ quan điều tra thu 01 giấy vay tiền và các sao kê ngân hàng của chị Trần Thị Tuyết V, chị Vũ Thị K.
Về trách nhiệm dân sự:
Anh Trần Hoài N yêu cầu Vũ Ngọc C hoàn trả lại số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp của anh N là 37.483.562 đồng.
Chị Vũ Thị K yêu cầu Vũ Ngọc C hoàn trả lại số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp của chị K là 15.984.932 đồng.
Bà Vũ Thị H2 yêu cầu Vũ Ngọc C hoàn trả lại số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp của bà H2 là 17.991.781 đồng.
Chị Trần Thị Tuyết V yêu cầu Vũ Ngọc C hoàn trả lại số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp của chị V là 21.349.315 đồng.
Đối với số tiền gốc 10.000.000 đồng chị K đã trả hộ cho chị V cùng với số tiền lãi theo quy định là 7.890.410 đồng mà C đã thu được là công cụ, phương tiện phạm tội nên phải thu hồi để sung quỹ nhà nước, hiện Cơ quan điều tra chưa thu hồi được. Vũ Ngọc C đã sử dụng số tiền trên vào nhu cầu cá nhân, nên chưa có khả năng nộp lại.
Đối với số tiền gốc còn nợ Vũ Ngọc C của anh Trần Hoài N là 20.000.000 đồng, bà Vũ Thị H2là 10.000.000 đồng, chị Vũ Thị Klà 10.000.000 đồng, chị Trần Thị Tuyết V số là 10.000.000 đồng, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã yêu cầu giao nộp nhưng chưa ai thực hiện việc giao nộp
Ngày 23-12-2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã ra Lệnh phong tỏa số 1025/LPT-ĐCSKT phong tỏa số tiền 33.369.420 đồng trong tài khoản số 2229156789 ngân hàng M mang tên Vu Ngoc C2 của C. Tại Cơ quan điều tra, Vũ Ngọc C đã đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Bản Cáo trạng số 61/CT-VKS-TPNĐ ngày 04-3-2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố bị cáo Vũ Ngọc C tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vũ Ngọc C đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu và không khai báo thêm tình tiết gì mới.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Vũ Ngọc C về tội danh, điều luật như bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Ngọc C phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 201 BLHS; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vũ Ngọc C từ 21 tháng đến 24 tháng cải tạo không giam giữ.
- Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Vũ Ngọc C trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
- Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo
- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 13 màu xanh và tịch thu tiêu huỷ 01 sim điện thoại số 0854.186.xxx đã thu giữ của bị cáo.
- Truy thu số tiền lãi (theo mức cao nhất quy định tại khoản 1 điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 là 20%/năm) mà bị cáo Vũ Ngọc C đã thu được là 7.890.410 đồng và truy thu số tiền gốc là 10.000.000 đồng chị V đã trả cho bị cáo để sung vào ngân sách Nhà nước.
- Truy thu đối số tiền nợ gốc chưa trả đối với anh Trần Hoài N là 20.000.000 đồng, chị Vũ Thị Klà 10.000.000 đồng, bà Vũ Thị H2là 10.000.000 đồng, chị Trần Thị Tuyết V là 10.000.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
- Buộc bị cáo Vũ Ngọc C trả lại anh Trần Hoài N số tiền 37.483.562 đồng, chị Vũ Thị K số tiền 15.984.932 đồng, bà Vũ Thị H2 số tiền 17.991.781 đồng, chị Trần Thị Tuyết V số tiền 21.349.315 đồng là số tiền thu lợi bất chính (tiền lãi vượt quá 20%/năm theo quy định tại khoản 1 điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015).
- Đối với số tiền 33.369.420 đồng trong tài khoản số 2229156789 ngân hàng M1 mang tên Vu Ngoc C2 đã thu giữ của bị cáo giữ nguyên lệnh phong toả để đảm bảo thi hành án.
- Buộc bị cáo Vũ Ngọc C phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Vũ Ngọc C nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vũ Ngọc C không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ khác như: lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, sao kê tài khoản ngân hàng, cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở khẳng định: Trong khoảng thời gian từ tháng 12-2023 đến tháng 12-2024 tại thành phố N, bị cáo Vũ Ngọc C đã có hành vi cho 04 người vay tổng số tiền là 60.000.000 đồng, với các mức lãi suất là 219%/năm, 255,5%/năm, 365%/năm, thu được tổng số tiền lãi là 100.700.000 đồng. Trong đó: số tiền lãi theo mức cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 của tổng số tiền vay là 7.890.410 đồng; số tiền lãi vượt quá quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 là 89.309.590 đồng. Ngoài ra bị cáo còn thu lợi từ việc cắt trực tiếp tiền vào số tiền gốc khi cho các cá nhân trên vay là 3.500.000 đồng với lý do thu tiền “xăng xe đi lại”. Tổng số tiền bị cáo Vũ Ngọc C đã thu lợi bất chính là 92.809.590 đồng.
Hành vi của bị cáo Vũ Ngọc C là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì mục đích thu lợi bị cáo vẫn cố ý thực hiện; lãi suất bị cáo cho vay đã vượt quá 5 lần của mức lãi suất cao nhất 20% /năm quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015. Vì vậy bị cáo Vũ Ngọc C đã phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì bị cáo Vũ Ngọc C đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đầu thú đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo sẽ được áp
dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Vũ Ngọc C không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về hình phạt:
Hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Ngọc C là nghiêm trọng đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N, bản thân bị cáo là người có nhân thân xấu nên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung. Vì vậy Hội đồng xét xử sẽ áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Vũ Ngọc C và giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt
Xét thấy bị cáo Vũ Ngọc C không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử sẽ không áp dụng biện pháp khấu trừ thu nhập đối với bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
[5] Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy bị cáo Vũ Ngọc C có đơn trình bày gia đình có hoàn cảnh khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận nên Hội đồng xét xử sẽ không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Biện pháp tư pháp và xử lý tiền liên quan đến tội phạm:
- Đối với số tiền lãi theo mức cao nhất quy định tại khoản 1 điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 là 20%/năm mà bị cáo Vũ Ngọc C đã thu được là 7.890.410 đồng, đây là khỏa tiền phát sinh từ tội phạm nên sẽ truy thu của bị cáo để sung vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với số tiền gốc 10.000.000 đồng cho vay mà bị cáo Vũ Ngọc C đã thu lại được do chị Vũ Thị K trả thay cho chị Trần Thị Tuyết V, bị cáo chưa nộp lại nên sẽ truy thu của để sung vào ngân sách Nhà nước.
Như vậy, tổng số tiền truy thu của bị cáo Vũ Ngọc C để sung vào ngân sách Nhà nước là: 7.890.410 đồng + 10.000.000 đồng = 17.890.000 đồng (đã làm tròn số)
- Đối với số tiền nợ gốc mà anh Trần Hoài N, bà Vũ Thị H2, chị Vũ Thị K và chị Trần Thị Tuyết V chưa trả cho bị cáo Vũ Ngọc C đều sẽ truy thu để sung vào ngân sách Nhà nước. Cụ thể: Truy thu đối anh Trần Hoài N số tiền là 20.000.000 đồng, truy thu đối với bà Vũ Thị H2 số tiền là 10.000.000 đồng, truy thu đối với chị Vũ Thị K số tiền là 10.000.000 đồng, truy thu đối với chị Trần Thị Tuyết V số tiền là 10.000.000 đồng.
- Đối với số tiền lãi vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 là tiền bị cáo Vũ Ngọc C thu lợi bất chính nên Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải trả lại cho những người vay. Cụ thể: trả lại cho anh Trần Hoài N số tiền 37.483.000 đồng (đã làm tròn), bà Vũ Thị H2 số tiền 17.991.000 đồng (đã làm
tròn), chị Vũ Thị K số tiền 15.984.000 đồng(đã làm tròn), chị Trần Thị Tuyết V số tiền 21.349.000 đồng (đã làm tròn).
- Giữ nguyên Lệnh phong tỏa số tiền 33.369.420 đồng trong tài khoản số 2229156789 tại ngân hàng M mang tên Vu Ngoc C2 theo Lệnh phong tỏa số 1025/LPT-ĐCSKT ngày 23-12-2024 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N để đảm bảo thi hành án.
[7] Xử lý vật chứng:
- Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro màu xanh, số IMEI: 355786378969823 đã qua sử dụng, bị cáo Vũ Ngọc C dùng để liên hệ, quản lý việc cho vay, trả nợ là công cụ, phương tiện dùng để phạm tội nên tịch thu để sung vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 thẻ sim điện thoại số 0854.186.xxx trên mặt sim có in dòng số [...]; 11285723274 xét không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.
[8] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Vũ Ngọc C bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Án phí dân sự sơ thẩm bị cáo Vũ Ngọc C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với tổng số tiền phải trả cho anh Trần Hoài N, bà Vũ Thị H2, chị Vũ Thị K, chị Trần Thị Tuyết V là 92.807.000 đồng. Cụ thể là: 92.807.000 đồng x 5% = 4.640.000 đồng (bốn triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng, đã làm tròn số).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Vũ Ngọc C phạm tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”
- Căn cứ khoản 1 Điều 201; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Vũ Ngọc C 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ. Thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15-12-2024 đến ngày 24-12-2024 được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ (01 ngày tạm giữ bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ). Thời hạn cải tạo không giam giữ của bị cáo được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi cư trú của bị cáo nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Vũ Ngọc C cho Ủy ban nhân dân phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Trong trường
hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật Thi hành án hình sự.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Vũ Ngọc C trong thời gian bị cáo chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
2. Biện pháp tư pháp và xử lý tiền liên quan đến tội phạm: Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự:
- Truy thu của bị cáo Vũ Ngọc C tổng số tiền 17.890.000 đồng (mười bảy triệu tám trăm chín mươi nghìn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
- Truy thu số tiền nợ gốc chưa trả của anh Trần Hoài N là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng); truy thu số tiền nợ gốc chưa trả của bà Vũ Thị H2 là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), truy thu số tiền nợ gốc chưa trả của chị Vũ Thị K là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng); truy thu số tiền nợ gốc chưa trả của chị Trần Thị Tuyết V là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
- Buộc bị cáo Vũ Ngọc C trả lại cho anh Trần Hoài N số tiền 37.483.000 đồng (ba bảy triệu bốn trăm tám ba nghìn đồng), trả lại bà Vũ Thị H2 số tiền 17.991.000 đồng (mười bảy triệu chín trăm chín mốt nghìn đồng), trả lại chị Vũ Thị K số tiền 15.984.000 đồng (mười lăm triệu chín trăm tám tư nghìn đồng), trả lại chị Trần Thị Tuyết V số tiền 21.349.000 đồng (hai mốt triệu ba trăm bốn chín nghìn đồng).
- Giữ nguyên Lệnh phong tỏa đối với số tiền 33.369.420 đồng (ba mươi ba triệu ba trăm sáu mươi chín nghìn bốn trăm hai mươi đồng) trong tài khoản số 2229156789 tại ngân hàng M mang tên Vu Ngoc C2 theo Lệnh phong tỏa số 1025/LPT-ĐCSKT ngày 23-12-2024 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N để đảm bảo thi hành án.
3. Căn cứ Điều 357 của Bộ luật Dân sự: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, anh Trần Hoài N, bà Vũ Thị H2, chị Vũ Thị K, chị Trần Thị Tuyết V có đơn đề nghị thi hành án, nếu bị cáo Vũ Ngọc C chậm trả tiền thì bị cáo phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:
- Tịch thu để sung vào ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro màu xanh, số IMEI: 355786378969823, được niêm phong trong túi niêm phong có mã số NS 323039176.
- Tịch thu tiêu huỷ 01 sim điện thoại số 0854.186.xxx được niêm phong trong túi niêm phong có mã số NS 323039176.
(Vật chứng có đặc điểm như quyết định chuyển vật chứng số 43/QĐ-VKSND-TPNĐ ngày 04-3-2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định)
5. Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội:
Bị cáo Vũ Ngọc C phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Vũ Ngọc C phải nộp 4.640.000 (bốn triệu sáu trăm bốn mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
6. Bị cáo Vũ Ngọc C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Trần Hoài N, bà Vũ Thị H2, chị Vũ Thị K, chị Trần Thị Tuyết V được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật thi hành án dân sự: Bị cáo Vũ Ngọc C và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là anh Trần Hoài N, bà Vũ Thị H2, chị Vũ Thị K, chị Trần Thị Tuyết V có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Mạnh Hà |
Bản án số 60/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 60/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Ngọc Chính phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
