|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 60/2025/HS-ST Ngày: 19-3-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Minh Thắng
Ông Nguyễn Trọng Thuý
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 11/2025/HSST ngày 16 tháng 01 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Huang JIALE, sinh ngày 26/8/1992;
Nơi cư trú: Số C đồn B, thôn T, thị trấn N, huyện Đ, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc;
Số chứng minh nhân dân: 45262319740913363X; Có hiệu lực từ ngày 16/01/2023 đến ngày 16/01/2043; Nơi cấp: Công an huyện Đ, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc;
Hộ chiếu số: EM2848937, cấp ngày 26/3/2024;
Nơi cấp: Q, Trung Quốc;
Đơn vị cấp: Cục Q;
Số thị thực: DA3518223; cấp ngày 10/5/2024;
Nơi cấp: Tổng lãnh sự quán nước C tại N, Trung Quốc;
Quốc tịch: Trung Quốc; Dân tộc: Choang; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: tiểu học ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam;
Họ tên bố: Huang Z; Họ tên mẹ: Wei Xiu Hua
Vợ: Chưa; Tiền án; tiền sự tại Việt Nam: Không;
Nhân thân tại nước Cộng hòa nhân dân Q: Ngày 08/11/2009 bị cơ quan Công an bắt giữ vì tội trộm cắp; Ngày 14/3/2017 bị cơ quan Công an bắt giữ vì tội buôn bán ma túy.
Bị tạm giữ từ ngày 06/6/2024 đến ngày 12/6/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.
2. H2, sinh ngày 13/9/1974;
Nơi cư trú: số D đồn B, thôn T, thị trấn N, huyện Đ, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc;
Số chứng minh nhân dân: 45262319740913363X;
Có hiệu lực từ ngày 29/8/2008 đến ngày 29/8/2028
Nơi cấp: Công an huyện Đ, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc;
Hộ chiếu số: EB9503878, cấp ngày 27/12/2017;
Nơi cấp: Q, Trung Quốc;
Đơn vị cấp: Cục Q; Số thị thực: DA3518224; cấp ngày 10/5/2024;
Nơi cấp: Tổng lãnh sự quán nước C tại N, Trung Quốc;
Quốc tịch: Trung Quốc; Dân tộc: Choang; Tôn giáo: không;
Trình độ học vấn: tiểu học ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam;
Họ tên bố: Huang Bujiao (đã chết); Họ tên mẹ: Huang Xiu Lian;
Vợ: Huang Yan Fei .
Tiền án, tiền sự tại Việt Nam: Không;
Nhân thân tại nước Cộng hòa nhân dân Q: Ngày 16/4/2021, bị cơ quan Công an bắt giữ vì liên quan sử dụng chất ma túy; Ngày 16/9/2023, bị xử phạt vi phạm giao thông vì lái xe khi đã sử dụng rượu bia; Ngày 28/11/2023, bị cơ quan Công an xử phạt vì tham gia đánh bạc.
Bị tạm giữ từ ngày 06/6/2024 đến ngày 12/6/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.
- Bị hại:
- Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1987 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. - Anh Li Hsin Y, sinh năm 1987 - Chức vụ: Giám đốc Công ty TNHH C1; (Vắng mặt)
Địa chỉ: Công ty TNHH C1, Lô H Khu Công nghiệp T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. - Ông Lee Chang H, sinh năm 1974 – Chức vụ: Giám đốc Công ty TNHH B; (Vắng mặt)
Địa chỉ: Công ty TNHH B, Lô G Khu công nghiệp T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Người phiên dịch: Ông Hà Văn T1, sinh năm 1987.
Nơi công tác: Phòng An ninh đối ngoại - Công an tỉnh T.
Nơi thường trú: SN F T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trưa ngày 29/05/2024, Huang J và H2 đi xe máy nhãn hiệu SYM Attila, BKS: 98M1-071.33 từ tỉnh Bắc Ninh vào Thanh Hóa tìm đến các công ty trong Khu công nghiệp để trộm cắp tài sản. Khoảng 01h30 ngày 31/5/2024, H2 điều khiển xe máy chở Huang J ngồi sau sử dụng ứng dụng Google Maps trên chiếc điện thoại di động Iphone 13 chỉ đường đi đến khu Công nghiệp T, thuộc phường Đ, thành phố T để trộm cắp tài sản. Sau khi giấu xe máy ven đường, cả hai đeo găng tay, khẩu trang, mặc áo chống nắng mang theo 01 chiếc xà cầy dài khoảng 40cm rồi đi đến Công ty TNHH C2, ở Lô H Khu Công nghiệp T rồi trèo qua tường rào, sau đó trèo qua cửa sổ đột nhập vào bên trong phòng làm việc lục tìm tài sản để trộm cắp. Huang Zhen L dùng xà cầy cậy tủ bàn làm việc của chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1987, ở thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa là nhân viên Công ty TNHH C2 trộm cắp số tiền 2.500.000 đồng; 01 nhẫn vàng kèm theo hóa đơn mua bán được đựng trong 01 chiếc túi vải có dây rút. Sau đó cả hai tiếp tục di chuyển sang phòng làm việc của ông Li Hsin Y, sinh năm 1987, trú tại số F đường G, thành phố G, Đài Loan (là Giám đốc công ty), Huang J trộm cắp được 01 tờ tiền mệnh giá 50 Nhân dân tệ trong ngăn kéo bàn làm việc. Sau khi lấy được số tài sản trên, cả hai tiếp tục trèo qua hàng rào sắt đột nhập vào bên trong Công ty TNHH B, Lô G KCN T, phường Đ, thành phố T lấy trộm được 01 chiếc áo phông màu trắng tại gian nhà kính trên tầng hai, sau đó cả hai trèo tường ra ngoài đi lại chỗ giấu xe trước đó lấy xe và quay lại thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Đến ngày 05/06/2024, khi Huang Zhen L và Huang Jiale đang đứng ở khu vực Nhà văn hóa Tổ dân phố T3, đường L, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang thì bị Tổ công tác Công an thành phố B, tỉnh Bắc Giang phát hiện có nhiều biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra hành chính và mời về trụ sở để làm việc. Sau đó bàn giao người, phương tiện và đồ vật liên quan cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T và H2 đã xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đồng thời giao nộp: Tờ tiền 50 nhân dân tệ, 01 nhẫn vàng kèm theo hóa đơn mua bán được đựng trong 01 chiếc túi vải có dây rút. Số tiền 2.500.000 đồng H2 và Huang J khai báo đã ăn tiêu hết. Đối với 01 áo phông cọc tay màu trắng H2 khai không nhớ đã vứt ở đâu nên không có căn cứ để truy tìm.
Tại kết luận giám định số 4464/KL-KTHS ngày 18/06/2024, V1 Bộ C3 kết luận: 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng, hình tròn, mặt nhẫn có gắn các viên vật liệu không màu gửi giám định có khối lượng 2,14 gram (tính cả viên vật liệu) là vàng (Au) trang sức, hàm lượng Au: 60,54%; Ag: 2,59%.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 62/KL-HĐĐGTS ngày 22/07/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố T kết luận:
- + 01 chiếc áo phông cộc tay màu trắng (mã sản phẩm WSY2FK13A) tại thời điểm bị trộm cắp có trị giá 1.065.000 đồng.
- + 01 chiếc nhẫn vàng Tây trang sức gắn mặt đá tại thời điểm bị trộm cắp có trị giá 1.925.000 đồng.
Ngày 06/08/2024, Ngân hàng N có Công văn số 934/THH-THKT xác định 01 nhân dân tệ CNY (tiền Trung Quốc) = 3.346.4 Việt Nam đồng.
Tại kết luận giám định số 3136/KL-KTHS ngày 28/08/2024, Phòng Kỹ thật hình sự Công an tỉnh T kết luận: Các cạnh đầu dẹt của các thanh kim loại được ký hiệu M1, M2, M5 (ảnh 6 đến 11,14,15 bản ảnh khám đồ vật) khi tác động tạo nên được các dấu vết được ghi nhận trong ảnh (14 đến 19 bản ảnh khám nghiệm hiện trường Công ty B) và ảnh số 8 (bản ảnh khám nghiệm hiện trường Công ty C1).
* Vật chứng và đồ vật có liên quan:
- - Đối với 01 điện thoại di động Iphone 13 của Huang Jiale; 01 xe máy SYM Attila, BKS: 98M1-071.33 của H2 và Huang J sau khi đến Việt Nam chung tiền để mua; 01 đăng ký xe môtô, xe máy số 009670 của xe ATTILA màuđỏ, BKS: 98M1-071.33 mang tên chủ xe Nguyễn Thị T2; 06 thanh kim loại (dạng xà cầy); 20 chiếc gang tay bằng vải màu xám, cổ tay viền đỏ; 01 chiếc áo dài tay bằng vải có mũ liền thân chùm đầu màu xám; 01 đôi giày nhựa màu đen, viền đế màu trắng, trên giày có chữ DAXING là công cụ, phương tiện các bị can sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, là vật chứng của vụ án, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa xử lý theo quy định pháp luật.
- - Đối với 01 túi vải màu đỏ, 01 chiếc nhẫn vàng Tây trang sức, 01 hóa đơn mua hàng do các đối tượng trộm cắp được là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị T, nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố T Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị T .
- - Đối với 01 tờ tiền mệnh giá 50 nhân dân tệ mà H giao nộp là tài sản các bị can trộm cắp được của ông Lin Hsin Y1, nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố T Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Lin Hsin Y1 .
- - Đối với 01 Hộ chiếu số EM2848937 mang tên Huang Jiale; 01 thị thực số DA3518223; 01 thẻ căn cước số 452623199208263613; 01 thẻ cứng số: CF0478399; 01 hộ chiếu số EB9503878 mang tên H2; 01 thị thực số DA3518224; 01 thẻ từ trên thẻ ghi dòng chữ CD Hotel và dán số 311; 01 thẻ căn cước số 45262319740913363X; 01 ví da màu đen; 01 điện thoại di động HUA WEI NOVA 10 lắp sim số 0335183475; 01 đôi dép lê xốp màu trắng của Huang J là tài sản, đồ vật, tài liệu hợp pháp của Huang J và H2 không phải vật chứng của vụ án, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu trả lại cho Huang J và Huang Z.
* Về dân sự:
Đối với số tiền 2.500.000đ của chị Nguyễn Thị T bị trộm cắp: H2 và Huang J tự đã nguyện bồi thường cho chị T 1.790.000 đồng, số tiền còn lại chị T không yêu cầu bồi thường.
Ông Lee Chang H - Giám đốc Công ty TNHH B không yêu cầu, đề nghị gì về bồi thường dân sự đối với tài sản bị trộm cắp là chiếc áo phông.
Tại Cơ quan điều tra, các bị can Huang JIALE và H2 đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Tại cáo trạng số 18/CT-VKS-P2, ngày 15/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố Huang JIALE và H2, về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa hôm nay
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa giữ nguyên Quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo H1 JIALE và H2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”, đề nghị xử phạt bị cáo H1 JIALE mức án từ 10 tháng đến 12 tháng tù;
H2 mức án từ 10 tháng đến 12 tháng tù.
Về phần dân sự: Công nhận đã bồi thường xong.
Đề nghị xử lý vật chứng và án phí.
Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thừa nhận:
Khoảng 01h30 phút ngày 31/5/2024, H2 điều khiển xe máy chở Huang J ngồi sau sử dụng ứng dụng Google Maps trên chiếc điện thoại di động Iphone 13 chỉ đường đi đến khu Công nghiệp T, thuộc phường Đ, thành phố T rồi lén lút đột nhập vào Công ty TNHH C2, ở Lô H KCN Tây Bắc G trộm cắp tài sản, bao gồm: 2.500.000 đồng; 01 nhẫn vàng Tây trị giá 1.925.000 đồng của chị Nguyễn Thị T; 50 Nhân dân tệ tương đương với 167.000 Việt Nam đồng của ông Li Hsin Y. Sau đó tiếp tục đột nhập vào Công ty TNHH B, Lô G KCN T, phường Đ, thành phố T trộm cắp 01 chiếc áo phông màu trắng, trị giá 1.065.000 đồng. Tổng trị giá tài sản mà Huang JIALE và Huang Z đã trộm cắp là 5.657.000 đồng.
Lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Huang JIALE và H2 phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
[3] Về trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Các bị cáo đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, lén lút trộm cắp tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra nhằm giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã đầu thú khai báo hành vi phạm tội. Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; Bị cáo đã bồi thường cho các bị hại toàn bộ tài ản trộm cắp để khắc phục hậu quả; Do đó bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là ngwòi nước ngoài, hiện đang bị tạm giam, nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về phần dân sự: Bị cáo và các bị hại đã thỏa thuận với nhau về việc bồi thường thiệt hại. Bị hại không có yêu cầu bổi thường gì. Do đó công nhận đã bồi thường xong.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 06 thanh kim loại (dạng xà cầy); 20 chiếc găng tay; 01 chiếc áo dài tay; 01 đôi giày nhựa màu đen là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động Iphone 13 của Huang Jiale; 01 xe máy SYM Attila, BKS: 98M1-071.33 của H2 và Huang J sau khi đến Việt Nam chung tiền để mua; 01 đăng ký xe môtô số 009670 của xe ATTILA màuđỏ, BKS: 98M1-071.33 mang tên chủ xe Nguyễn Thị T2 là công cụ, phương tiện để các bị cáo đi trộm cắp tài sản nên tịch thu, bán nộp ngân sách nhà nước.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173; Điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Huang JIALE và H2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt:
Bị cáo Huang JIALE 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/6/2024 .
Bị cáo H2 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/6/2024.
Về trách nhiệm dân sự: Công nhận đã bồi thường xong.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu, bán nộp ngân sách nhà nước:
- Một xe mô tô nhãn hiệu SYM, loại xe: Attila, màu sơn: đỏ; lắp BKS: 98M – 071.33. Số khung: 013536; số máy: 013836. Xe không có gương chiếu hậu, xe cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy móc bên trong.
- 01 giấy đăng ký xe số: 009670 mang tên Nguyễn Thị T2, trú tại Thôn A, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang của xe mô tô nhãn hiệu SYM ATTILA, biển số: 98M1-071.33.
- Một điện thoại di động Iphone 13, màu trắng, Imel : 353414862365000; số IMEI 1: 353414862309354; điện thoại gắn kèm sim thu giữ của Huang JIALE. Điện thoại đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy móc bên trong.
Tịch thu tiêu huỷ:
- 01 thanh kim loại dài 25,5 cm, màu nâu có một đầu tròn có rãnh xoắn bên trong, một đầu dẹt; 01 thanh kim loại dài 27,5 cm, màu nâu có một đầu tròn có rãnh xoắn bên trong, một đầu dẹt; 01 thanh kim loại hình trụ tròn dài 27,5 cm, màu nâu có một đầu tròn có rãnh xoắn bên trong, một đầu có rãnh xoắn bên ngoài; 01 thanh kim loại hình trụ tròn dài 28 cm, màu nâu có một đầu tròn có rãnh xoắn bên trong, một đầu có rãnh xoắn bên ngoài; 01 thanh kim loại hình chữ L màu nâu, một cạnh dài 24,5 cm có rãnh xoắn bên ngoài, một cạnh dài 9,5 cm đầu dẹt.
- 01 thanh kim loại hình chữ L màu nâu, một cạnh dài 23,5 cm đầu có rãnh xoắn bên ngoài, ở giữa có hàn thêm một bu lông đai ốc, một cạnh dài 3,5 cm.
- Một đôi giày nhựa màu đen, viền để màu trắng, trên giày có chữ DAXING màu trắng.
- 01 áo dài tay bằng vải có mũ liền thân chùm đầu màu xám có khóa kéo;
- 20 chiếc găng tay bằng vải màu xám, cổ tay viền đỏ.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14. Bị cáo H1 JIALE và H2 phải nộp mỗi bị cáo 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Trương Thị Anh |
Bản án số 60/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)
- Số bản án: 60/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo phạm tội Trộm cắp tài sản
