|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 60/2025/HS-ST Ngày: 24-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NΑΙ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Ngọc Vinh;
Bà Nguyễn Thị Kim Y.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Như Nên – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 86/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Vũ Minh T; sinh năm 1986 tại Cần Thơ; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Tổ B, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên cha: Vũ Văn N, sinh năm 1965, Họ tên mẹ: Lại Thị H, sinh năm 1967. Gia đình có ba anh em, bị cáo là con thứ nhất, có vợ tên Nguyễn Thị Thùy D, sinh năm 1986, có 03 con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2024;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ, chuyển tạm giam từ ngày 02/9/2024 cho đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (Bị cáo có mặt).
2. Họ và tên: Tạ Minh T1, sinh năm 1998 tại Đồng Nai; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: 0/1, đường N, tổ A, khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Nghề nghiệp: không; Họ tên cha: Tạ Hữu T2, sinh năm 1958 (đã chết), Họ tên mẹ: Sơn Thị S, sinh năm 1959 (đã chết). Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con út, chưa có vợ con.
Tiền án: Ngày 12/9/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (Bản án số 388/2022/HSST ngày 12/9/2022) xử phạt 06 (S1) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự. Ngày 16/5/2023, T1 chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích.
Tiền sự: Ngày 19/01/2024, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa ra Quyết định số 02/QĐ-TA về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 (Hai mươi bốn) tháng tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai. T1 chưa chấp hành.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, chuyển tạm giam từ ngày 02/9/2024 cho đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (Bị cáo có mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Vũ Thị Thùy D1, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Tổ B, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vũ Minh T và Tạ Minh T1 là bạn quen biết nhau, đều là người sử dụng trái phép chất ma túy. Để có tiền tiêu xài và sử dụng ma túy, T nảy sinh ý định mua bán trái phép chất ma túy. Từ ngày 20/8/2024 đến ngày 01/9/2024, T đã bán trái phép chất ma túy cho T1 02 lần, cụ thể:
- Lần 1: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 20/08/2024, T1 sử dụng điện thoại di động có số thuê bao 0978.481.341 gọi điện thoại cho T theo số điện thoại 0792.060.xxx hỏi mua ma túy, với giá 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng), T đồng ý. T điện thoại cho nam thanh niên theo số 0937.196.022 (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 01 gói ma túy. Sau đó, T đến khu vực bãi đất trống thuộc phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai mua của nam thanh niên 01 gói ma túy (ma túy tổng hợp), với giá 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, T hẹn T1 đến ngã Tư đường N thuộc khu phố C, phường T, TP B, tỉnh Đồng Nai bán lại gói ma túy (T vừa mua nêu trên) cho T1 với giá 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Do quen biết T1 nên T không kiếm lời. Sau khi mua ma túy của T, T1 đã sử dụng một mình hết.
- Lần 2: Vào khoảng 07 giờ ngày 29/08/2024, T tiếp tục liên lạc với người thanh niên có số thuê bao 0978.481.341 hỏi mua ma túy. Sau đó, T đến khu vực Giáo xứ B thuộc phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai mua của nam thanh niên (nêu trên) 01 gói ma túy (ma túy tổng hợp) với giá 1.400.000 đồng (Một triệu bốn trăm nghìn đồng). Sau đó, T mang gói ma túy về nhà của T tại tổ B, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cất giấu để sử dụng. Đến khoảng 08 giờ 30 ngày 01/9/2024, trong lúc T đang ở nhà của T thì T1 tiếp tục điện thoại cho T hỏi mua 01 gói ma túy (ma túy tổng hợp), với giá 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) để sử dụng, T đồng ý và hẹn đến địa điểm ngã ba trên đường N thuộc khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để giao ma túy và nhận tiền. Sau đó T để 01 gói ma túy (mua ngày 29/8/2024 nêu trên) vào bên trong túi nilon loại Z và cất giấu trong người rồi điều khiển xe mô tô Lead biển số 60F3-564.41 đến địa điểm nêu trên bán cho T1 với giá 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) bằng hình thức: T1 trả 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) tiền mặt cho T và T1 dùng điện thoại di động có số thuê bao 0978.481.341 chuyển khoản cho T 1.100.000 đồng (Một triệu một trăm nghìn đồng) thông qua tài khoản số 0978481340 của ngân hàng M-chủ tài khoản Tạ Minh T1 chuyển tiền vào tài khoản số 0481000156605 của ngân hàng V-chủ tài khoản Vũ Minh T. T thu lợi bất chính 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng).
Đến 09 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi mua ma túy của T, T1 cất giấu 01 gói ma túy ở trong nón kết T1 đang đội trên đầu. T1 điều khiển xe mô tô Airblade biển số 60B4-315.46 chạy đến đoạn đường G, tổ C, khu phố C, phường T, TP B, tỉnh Đồng Nai thì bị Công an phường T phối hợp với Đội Cảnh sát giao thông Công an thành phố B kiểm tra, phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.
Ngày 02/9/2024, Vũ Minh T bị bắt khẩn cấp.
Quá trình điều tra Vũ Minh T và Tạ Minh T1 khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
2. Vật chứng, tài sản thu giữ gồm:
Thu giữ của Vũ Minh T:
- - 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) là tiền T bán ma túy cho Tạ Minh T1 mà có.
- - 01 điện thoại di động hiệu Oppo A79, số imel: 862780062323336 là tài sản của Vũ Minh T sử dụng vào việc phạm tội.
- - 01 xe mô tô Lead màu sơn đen biển số 60F3-564.41, số máy: JF89E0168247, số khung: RLHJF7937LZ305116, do Vũ Minh T mua đăng ký chủ sở hữu. T sử dụng xe mô tô trên làm phương tiện mua bán trái phép chất ma túy.
Thu giữ của Tạ Minh T1.
- - 01 (Một) gói nilon bên trong chứa chất màu trắng được đựng trong túi nilon loại Zip (thu giữ trong nón kết (lưỡi trai) Tạ Minh T1 đang đội trên đầu).
- - 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung Glaxy A24, số sêri: R58W40W1PXW, số imel: 350226692949925 của Tạ Minh T1 sử dụng vào việc liên lạc mua ma túy.
- - 01 (Một) xe mô tô Airblade biển số 60B4-315.46, số khung: RLHJF60DY111203, số máy bị đục không rõ số. T1 khai mua xe của thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch) vào tháng 7/2024, không có giấy đăng ký xe, không làm thủ tục sang tên. Kết quả tra cứu xe mô tô biển số 60B4-315.46, có số máy: JF46E0133110, số khung: RLHJF4607DY111203, loại xe Airblade do bà Nguyễn Thị Ngọc L (sinh năm 1969, đăng ký thường trú tại khu A, ấp H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai) đứng tên đăng ký xe. Bà L khai, năm 2014, bà L có mua và đăng ký chủ sở hữu chiếc xe mô tô Airblade biển số 60B4-315.46. Đến năm 2020, bà L đã bán xe mô tô trên cho người khác (không rõ lai lịch), chỉ giao nhận xe và giấy đăng ký xe, không làm thủ tục sang tên. Do xe mô tô Airblade biển số 60B4-315.46 đã thu giữ có sự khác nhau về số khung, số máy so với kết quả xác minh nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tách xe trên tiếp tục làm rõ xử lý sau.
- * Ngày 10/12/2024, chị Vũ Thị Thùy D1 (vợ T) đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B giao nộp: 1.100.000 đồng (Một triệu một trăm nghìn đồng) là tiền của Tạ Minh T1 chuyển vào tài khoản mang tên Vũ Minh T để mua ma túy của T. Sau đó, chị D1 đã rút số tiền trong tài khoản của T giao nộp Cơ quan điều tra để phục vụ công tác điều tra.
- * Tại kết luận giám định số 1751/KL-KTHS ngày 06/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ xác định: “Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là chất ma túy, có khối lượng 2,3014 gam, loại: Methamphetamine”.
3. Truy tố:
Tại Bản cáo trạng số 115/CT - VKSBH ngày 22 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Vũ Minh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, Khoản 2, Điều 251 và bị cáo Tạ Minh T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, Khoản 1, Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vũ Minh T mức án từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s Khoản 1 Điều 51, điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Tạ Minh T1 mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo biết lỗi và rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm được làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng trong hồ sơ vụ án: Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra các bị cáo, người tham gia tố tụng khác và tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
[2] Tại phiên tòa bị cáo Tạ Minh T1 đã khai nhận: Vào ngày 20/8/2024 và 01/9/2024, tại ngã Tư đường N thuộc khu phố C, phường T, TP B, tỉnh Đồng Nai, Vũ Minh T đã có hành vi bán cho Tạ Minh T1 02 lần, mỗi lần 01 gói ma túy, loại Methamphetamine, với giá 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng)/gói. T thu lợi bất chính 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng). Vào ngày 01/9/2024, tại ngã Tư đường N thuộc khu phố C, phường T, TP B, tỉnh Đồng Nai, Tạ Minh T1 có hành vi tàng trữ trái phép 2,3014 gam ma túy, loại: Methamphetamine" (mua của Vũ Minh T vào lần 2 nêu trên) thì bị phát hiện bắt quả tang.
Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án; lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của Tạ Minh T1 đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như nội dung bản cáo trạng số 115/CT/VKSBH-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Đối với bị cáo Vũ Minh T trong quá trình điều tra bị cáo Vũ Minh T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Tuy nhiên tại phiên tòa, bị cáo T thay đổi lời khai, cho rằng Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo tại Khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là oan cho bị cáo, bị cáo chỉ bán ma túy cho T1 01 lần vào ngày 01/9/2024, còn vào ngày 20/8/2024 bị cáo T1 có hỏi bị cáo mua ma túy nhưng bị cáo không có ma túy để bán. Bị cáo T không thừa nhận hành vi hai lần bán ma túy cho T1. Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án như bản tự khai của bị cáo T, biên bản ghi lời khai của bị cáo T, bản tự khai của bị cáo T1, biên bản ghi lời khai của bị cáo T1...và lời khai nhận tội của bị cáo T1 tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Vũ Minh T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự như nội dung bản cáo trạng số 115/CT/VKSBH-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và là một trong những nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm cũng như các tệ nạn xã hội khác, bản thân các bị cáo biết rõ việc mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, cải tạo giáo dục và phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng:
- - Bị cáo Vũ Minh T: Không;
- - Bị cáo Tạ Minh T1: thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ:
- - Bị cáo Vũ Minh T: Không;
- - Bị cáo Tạ Minh T1: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về xử lý vật chứng và các vấn đề khác: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
- - 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) do T phạm tội và thu lợi bất chính từ việc mua bán trái phép chất ma túy mà có.
- - 01 điện thoại di động hiệu Oppo A79, số imel: 862780062323336 là tài sản của Vũ Minh T sử dụng vào việc phạm tội.
- - 01 xe mô tô Lead màu sơn đen biển số 60F3-564.41, số máy: JF89E0168247, số khung: RLHJF7937LZ305116, do Vũ Minh T mua đăng ký chủ sở hữu. T sử dụng xe mô tô trên làm phương tiện mua bán trái phép chất ma túy.
- - 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung Glaxy A24, số sêri: R58W40W1PXW, số imel: 350226692949925 của Tạ Minh T1 sử dụng vào việc liên lạc mua ma túy.
Đối với đối tượng sử dụng số thuê bao di động 0937196022 (Chưa rõ lai lịch) đã bán ma túy cho T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã có văn bản gửi Công ty V1 làm rõ chủ thuê bao. Đến nay chưa có kết quả nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ sẽ xử lý sau.
[6] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh và hình phạt:
- - Áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Tuyên bố bị cáo Vũ Minh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Vũ Minh T 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/9/2024.
- - Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, Điều 51; điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Tuyên bố bị cáo Tạ Minh T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Xử phạt bị cáo Tạ Minh T1 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/9/2024.
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
- - 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) do T phạm tội và thu lợi bất chính từ việc mua bán trái phép chất ma túy mà có.
- - 01 điện thoại di động hiệu Oppo A79, số imel: 862780062323336 là tài sản của Vũ Minh T sử dụng vào việc phạm tội.
- - 01 xe mô tô Lead màu sơn đen biển số 60F3-564.41, số máy: JF89E0168247, số khung: RLHJF7937LZ305116, do Vũ Minh T mua đăng ký chủ sở hữu. T sử dụng xe mô tô trên làm phương tiện mua bán trái phép chất ma túy.
- - 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung Glaxy A24, số sêri: R58W40W1PXW, số imel: 350226692949925 là tài sản của Tạ Minh T1 sử dụng vào việc phạm tội.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/02/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa).
3. Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Thị Thúy |
Bản án số 60/2025/HS-ST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 60/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Thiện (Điều 251) - Tuấn (Điều 249)
