Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 60/2025/DS-ST

Ngày 21-02-2025

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Thi.

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thanh Vân và ông Nguyễn Văn Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ký – Thư ký Tòa án nhân dân thành

phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa:

Ông Võ Phan Hưng – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 1240/2024/TLST-DS ngày 20 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 11/2025/QĐXXST–DS ngày 08 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty T1 JACCS (JIVF).

Trụ sở: Lầu A, Tòa nhà C, 7 đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện hợp pháp của Công ty T1 JACCS (JIVF) là Trương Quốc B, sinh năm 1984. Địa chỉ: Tầng F, tòa nhà P, số B U, Phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

- Bị đơn:

+ Bà Trần Thị Thanh T, sinh năm 1976 (vắng mặt).

Địa chỉ: A N, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

+ Ông Lê Văn D, sinh năm 1972 (vắng mặt).

Địa chỉ: A N, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa nguyên đơn Công ty T1 JACCS (JIVF) trình bày:

Vào ngày 08/01/2022 bà Trần Thị Thanh T và ông Lê Văn D ký Hợp đồng tín dụng số 83008002304226000 với JIVF vay tiền mua xe ô tô đa lãi suất theo hình thức thế chấp trả góp hàng tháng. Số tiền vay: 346.000.000 đồng, Lãi suất 7.500%/năm (từ ngày 08/01/2022) và 8.976%/năm (từ ngày 13/02/2023), thời hạn vay 84 tháng.

Thực hiện hợp đồng JIVF đã giải ngân số tiền trên vào tài khoản của Công ty N (H), Công ty N đã bàn giao xe ô tô đa lãi suất cho bên vay.

Để đảm bảo cho khoản vay trên, cùng ngày bà T, ông D ký hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai (động sản) số 830080002304226000-HĐTC với JIVF, đồng ý thế chấp toàn bộ tài sản để thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Tài sản thế chấp là chiếc xe ô tô Honda – Brio RS – Trắng, số khung MHRDD1890MJ090294; số máy L12B34450693; biển số kiểm soát 67A-188.10, Giấy chứng nhận đăng ký xe số: 67004606, do bà Trần Thị Thanh T đứng tên chủ sở hữu.

Theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng thì Bên vay có trách nhiệm thanh toán bao gồm gốc, lãi và phí trong vòng 84 tháng, mỗi tháng Bên vay phải thanh toán cho JIVF số tiền là 5319043 # "#.##0" 5.319.043 vào trước hoặc đúng ngày 12 hàng tháng cho đến khi kết thúc hợp đồng. Ngày thanh toán đầu tiên bắt đầu từ 14/02/2022.

Từ ngày 14/02/2022 đến 21/6/2024 bên vay thanh toán cho JIVF được số tiền là 158.094.695 đồng (trong đó, nợ gốc: 97.340.290 đồng, lãi trong hạn: 60.361.638 đồng; lãi quá hạn là 44.767 đồng, phí 348.000 đồng).

Từ ngày 28/10/2024 đến ngày 11/11/2024 bà T, ông D thanh toán được 16.078.000 đồng. Sau ngày 11/11/2024 đến nay bên vay không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho JIVF và cố tình lẩn tránh. Đến ngày 21/02/2025 bà T, ông D còn nợ JIVF số tiền 248.736.022 đồng (gốc: 237.701.393 đồng, nợ lãi trong hạn là 10.393.690 đồng, lãi quá hạn là 556.939 đồng, phí 84.000 đồng).

Vì vậy, việc bên vay không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán đã vi phạm thỏa thuận mà hai bên đã ký kết, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của JIVF.

Nay JIVF yêu cầu Tòa án:

Buộc bà Trần Thị Thanh T và ông Lê Văn D phải thanh toán 01 lần toàn bộ số tiền nêu trên. Và còn phải tiếp tục thanh toán lãi phát sinh trên số tiền vốn gốc theo mức lãi quá hạn và phí kể từ ngày 22/02/2025 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết.

Trường hợp bà Trần Thị Thanh T và ông Lê Văn D không thanh toán một lần toàn bộ khoản nợ thì JIVF được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án tiến hành phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

* Bị đơn Bà Trần Thị Thanh T, ông Lê Văn D vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, không gửi văn bản trình bày ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo luật định. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định pháp luật tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đối với bị đơn vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án là không chấp hành đúng quy định pháp luật tại Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là về hợp đồng tín dụng; bị đơn có địa chỉ thường trú tại địa bàn thành phố L nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Bị đơn Bà Trần Thị Thanh T, ông Lê Văn D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, tống đạt thông báo thụ lý, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và các văn bản tố tụng khác đúng quy định bà T, ông D vẫn vắng mặt không lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Xét, bà T, ông D với Công ty T1 JACCS (JIVF) thỏa thuận ký hợp đồng tín dụng vay tổng số tiền là 346.000.000 đồng. Bà T, ông D đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như cam kết trong hợp đồng tín dụng dẫn đến nợ quá hạn. Đến ngày 21/02/2025 bà T, ông D còn nợ JIVF số tiền 248.736.022 đồng (gốc: 237.701.393 đồng, nợ lãi trong hạn là 10.393.690 đồng, lãi quá hạn là 556.939 đồng, phí 84.000 đồng).

Hợp đồng tín dụng mà các bên ký kết trên cơ sở tự do, tự nguyện thỏa thuận, nội dung, hình thức không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định pháp luật tại Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 398 của Bộ luật Dân sự 2015; khoản 2 Điều 91, Điều 94 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017. Đồng thời, quá trình thực hiện hợp đồng bên vay sử dụng vốn vay đúng mục đích, bên cho vay có kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay, nên được pháp luật công nhận, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các bên.

Do vi phạm nghĩa vụ trả vốn, lãi theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết làm phát sinh nợ quá hạn nên JIVF yêu cầu thanh toán vốn, lãi tính đến ngày 21/02/2025 là 248.736.022đồng và tiếp tục tính lãi phát sinh từ ngày 22/02/2025 cho đến khi trả xong toàn bộ vốn, lãi là có căn cứ phù hợp với quy định tại 280 của Bộ luật Dân sự 2015, Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

[2.2] Xét, Hợp đồng thế chấp được các bên ký kết trên cơ sở tự do, tự nguyện thỏa thuận, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, có công chứng và có đăng ký giao dịch đảm bảo theo quy định tại khoản 2 Điều 119 Bộ luật dân sự 2015, khoản 1 Điều 3 và điểm a khoản 2 Điều 4 của Nghị định số: 102/2017/NĐ-CP, ngày 01/9/2017 của Chính Phủ quy định về việc đăng ký biện pháp bảo đảm. Do đó, JIVF yêu cầu trường hợp ông D, bà T không trả nợ thì JIVF được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản thế chấp để thi hành án là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về án phí:

Do vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên bà T, ông D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền bị buộc thanh toán (248.736.022) là 12.436.000 đồng.

Với yêu cầu được chấp nhận Công ty T1 (JIVF) không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 280, Điều 398 của Bộ luật Dân sự 2015;

Căn cứ Điều 91, Điều 94, Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017;

Căn cứ Điều 3 và Điều 4 của Nghị định số: 102/2017/NĐ-CP, ngày 01/9/2017 quy định về việc đăng ký biện pháp bảo đảm.

Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T1 JACCS (JIVF) đối với bà Trần Thị Thanh T, ông Lê Văn D.
    • - Buộc bà Trần Thị Thanh T, ông Lê Văn D có nghĩa vụ trả cho Công ty T1 JACCS (JIVF) số tiền vốn, lãi tính đến ngày 21/02/2025 là 248.736.022 đồng (gốc: 237.701.393 đồng, lãi trong hạn là 10.393.690 đồng, lãi quá hạn là 556.939 đồng, phí 84.000 đồng).
    • - Bà bà Trần Thị Thanh T, ông Lê Văn D còn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh trên số tiền vốn gốc theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết kể từ ngày 22/02/2025 cho đến khi trả hết nợ.
    • - Trường hợp bà Trần Thị Thanh T và Ông Lê Văn D không trả hoặc trả không đầy đủ vốn, lãi thì Công ty T1 JACCS (JIVF) được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai (động sản) số: 830080002304226000-HĐTC, ngày 08/01/2022, được ký kết giữa Công ty T1 JACCS (JIVF) với bà Trần Thị Thanh T và ông Lê Văn D để thi hành án. Tài sản thế chấp là Xe ô tô: HONDA-Honda_Brio RS-TRẮNG biển kiểm soát 67A188.10 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 67004606.
  2. Về án phí:
    • - Bà Trần Thị Thanh T, ông Lê Văn D phải chịu 12.436.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
    • - Công ty Công ty T1 (JIVF) được nhận lại toàn bộ tiền tạm ứng án phí là 6.337.000 đồng theo Biên lai thu số: 0001893 ngày 20 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.
  3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND TPLX;
  • - Chi cục THADS TPLX;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hồng Thi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2025/DS-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 60/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công ty T1 kiện bà T, ông D
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger