|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 60/2025/HNGĐ-ST Ngày: 19-02-2025 Về tranh chấp: Ly hôn, nuôi con. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Định.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Quang Bảo.
2. Bà Vương Thị Minh Tân.
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thanh Hương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Phạm Bá Hiệp - Kiểm sát viên.
Vào ngày 19 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 445/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Tạ Thị T, sinh năm 1992; số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú và cư trú: Số B T, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định; có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1986; số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú: Số B T, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định (hiện đang chấp hành án tại: Đ, phân trại số B, Trại giam X; địa chỉ: Xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh); có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện nộp ngày 19-11-2024 và bản tự khai ngày 20-11-2024 và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn là chị Tạ Thị T trình bày:
Chị và anh Nguyễn Văn Q có thời gian tìm hiểu trong khoảng 02 tháng. Sau đó hai bên tổ chức lễ cưới trên cơ sở tự nguyện vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố N vào ngày 31-3-2016.
Sau khi kết hôn, chị và anh Nguyễn Văn Q chung sống tại: Số B T, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định. Cuộc sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do anh Q chơi bời, thường xuyên uống rượu và đánh đập chị. Vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện, bàn bạc để khắc phục tình trạng gia đình nhưng anh Q không thay đổi nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, kéo dài. Vào tháng 01-2024 anh Nguyễn Văn Q có hành vi vi phạm pháp luật và hiện đang chấp hành án tại: Đ, phân trại số B, Trại giam X; địa chỉ: Xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện tại, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn giữa hai bên đã trầm trọng và không thể khắc phục, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh Nguyễn Văn Q ly hôn.
Về con chung: Chị và anh Nguyễn Văn Q có 02 con chung là Nguyễn Hồng A, sinh ngày 08-3-2017 và Nguyễn Quốc Đ, sinh ngày 23-02-2020. Hiện tại hai con chung đang do chị trực tiếp nuôi dưỡng. Nếu vợ chồng ly hôn, chị có nguyện vọng xin nuôi cả hai con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị không yêu cầu anh Nguyễn Văn Q phải cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn.
Tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Chị Tạ Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Tại bản tự khai ngày 17-12-2024 và biên bản lấy lời khai ngày 17-12-2024, bị đơn là anh Nguyễn Văn Q trình bày:
Anh và chị Tạ Thị T có tổ chức lễ cưới vào năm 2016 và đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố N vào ngày 31-3-2016 trên cơ sở tự nguyện giữa hai bên.
Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng diễn ra hòa thuận cho đến cuối năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng bất đồng quan điểm với nhau về nhiều vấn đề trong cuộc sống, vợ chồng cãi nhau thường xuyên. Anh có hành vi vi phạm pháp luật và hiện đang chấp hành án tại: Đ, phân trại số B, Trại giam X; địa chỉ: Xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện tại, chị Tạ Thị T có nguyện vọng xin ly hôn, anh đồng ý.
Về con chung: Anh và chị Tạ Thị T có 02 con chung là Nguyễn Hồng A, sinh ngày 08-3-2017 và Nguyễn Quốc Đ, sinh ngày 23-02-2020. Hiện tại hai con chung đang do chị Tạ Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Nếu vợ chồng ly hôn, anh đồng ý để chị Tạ Thị T là người trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh nhất trí với quan điểm của chị Tạ Thị T không yêu cầu anh phải cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.
Tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Anh Nguyễn Văn Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Tại biên bản ghi nguyện vọng của con chung ngày 27-11-2024, cháu Nguyễn Hồng A đã trình bày nguyện vọng: Trong trường hợp Tòa án xử ly hôn cho bố mẹ cháu thì cháu muốn được ở với mẹ cháu là Tạ Thị T.
4. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa có quan điểm:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Những người tham gia tố tụng đã được bảo đảm thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Giai đoạn chuẩn bị xét xử và phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung tranh chấp: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV.
- Xử ly hôn giữa chị Tạ Thị T và anh Nguyễn Văn Q.
Về con chung: Giao cho chị Tạ Thị T trực tiếp nuôi 02 con chung là Nguyễn Hồng A, sinh ngày 08-3-2017 và Nguyễn Quốc Đ, sinh ngày 23-02-2020. Anh Nguyễn Văn Q không phải cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Chị Tạ Thị T và anh Nguyễn Văn Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Buộc chị Tạ Thị T phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
1.1. Về tranh chấp được giải quyết trong vụ án:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn là chị Tạ Thị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn anh Nguyễn Văn Q, giải quyết về người trực tiếp nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng. Bị đơn là anh Nguyễn Văn Q không có yêu cầu phản tố. Do vậy quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định tranh chấp về hôn nhân gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự
1.2. Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Bị đơn là anh Nguyễn Văn Q có đăng ký thường trú tại địa chỉ: Số B T, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định, hiện đang chấp hành án tại: Đ, phân trại số B, Trại giam X; địa chỉ: Xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Vì vậy, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
1.3. Về sự có mặt của các đương sự trong vụ án:
Nguyên đơn là chị Tạ Thị T và bị đơn là anh Nguyễn Văn Q đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo quy định tại điểm khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung tranh chấp:
2.1. Về quan hệ hôn nhân:
Chị Tạ Thị T và anh Nguyễn Văn Q có thời gian tìm hiểu nhau trước khi kết hôn, sau đó đã tổ chức lễ cưới trên cơ sở tự nguyện vào năm 2016. Hai bên có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố N vào ngày 31-3-2016. Như vậy, hôn nhân giữa chị Tạ Thị T và anh Nguyễn Văn Q là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, chị Tạ Thị T và anh Nguyễn Văn Q chung sống tại địa chỉ: Số B T, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định. Cuộc sống vợ chồng diễn ra bình thường cho đến khoảng cuối năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng sống không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên xảy ra xích mích, cãi nhau, bất đồng về quan điểm. Hai bên đã nhiều lần nói chuyện với nhau để khắc phục tình cảm vợ chồng. Hiện tại, chị Tạ Thị T và anh Nguyễn Văn Q đều yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị Tạ Thị T và anh Nguyễn Văn Q ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử có căn cứ cho ly hôn giữa chị Tạ Thị T và anh Nguyễn Văn Q theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
2.2. Về con chung:
Chị Tạ Thị T và anh Nguyễn Văn Q có 02 con chung là Nguyễn Hồng A, sinh ngày 08-3-2017 và Nguyễn Quốc Đ, sinh ngày 23-02-2020. Xét thấy chị Tạ Thị T đang trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con và có đủ điều kiện để nuôi con; anh Nguyễn Văn Q đang chấp hành án và cũng có quan điểm đề nghị Tòa án giao hai con cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng.
Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, căn cứ vào các Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Hội đồng xét xử giao cho chị Tạ Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung là cháu là Nguyễn Hồng A, sinh ngày 08-3-2017 và Nguyễn Quốc Đ, sinh ngày 23-02-2020.
2.3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con:
Xét thấy việc chị Tạ Thị T không yêu cầu anh Nguyễn Văn Q phải cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với thực tế nên Hội đồng xét xử sẽ chấp nhận.
2.4. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng:
Chị Tạ Thị T và anh Nguyễn Văn Q không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[3] Về án phí:
Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV thì án phí trong vụ án sẽ được quyết định như sau:
Chị Tạ Thị T là nguyên đơn trong vụ án nên phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Tạ Thị T và anh Nguyễn Văn Q.
2. Về con chung: Giao cho chị Tạ Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung Nguyễn Hồng A, sinh ngày 08-3-2017 (giới tính: Nữ) và Nguyễn Quốc Đ, sinh ngày 23-02-2020 (giới tính: Nam).
Về cấp dưỡng nuôi con: Chấp nhận sự tự nguyện của chị Tạ Thị T không yêu cầu anh Nguyễn Văn Q cấp dưỡng nuôi con.
Chị Tạ Thị T và anh Nguyễn Văn Q vẫn có đầy đủ quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên theo quy định của pháp luật. Không ai được cản trở người không trực tiếp nuôi con thực hiện quyền, nghĩa vụ thăm nom con. Người không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Án phí:
Chị Tạ Thị T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) chị Tạ Thị T đã nộp tại biên lai số 0002447 ngày 19-11-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định. Chị Tạ Thị T đã nộp đủ án phí.
4. Quyền kháng cáo:
Chị Tạ Thị T và anh Nguyễn Văn Q có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA PHẠM THỊ THU ĐỊNH |
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Nam Định;
- - VKSND tỉnh Nam Định;
- - VKSND thành phố Nam Định;
- - Chi cục THADS TP. Nam Định;
- - UBND P. Cửa Nam
- (ĐKKH số .... ngày 31-3-2016);
- - Các đương sự;
- - Lưu hồ sơ vụ án.
Bản án số 60/2025/HNGĐ-ST ngày 19/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 60/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
