|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 60/2024/HS-ST
Ngày: 11-12-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tựu.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Bùi Văn Sinh;
- Bà Bùi Nguyễn Tuyết Minh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Hồng Tân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tùng – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 61/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Dương Ngọc Đ, sinh ngày 18-7-1995 tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: Khóm C, thị trấn S, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Văn P, sinh năm 1977 và bà Huỳnh Thị Bạch T, sinh năm 1969; Anh chị em ruột; 02 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Tạm giữ: Ngày 05-10-2024; Hủy bỏ biện pháp tạm giữ: Ngày 07-10-2024; Tạm giam: Không; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh (có mặt).
- Người chứng kiến: Nguyễn Tấn Đ1, sinh năm 2000 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 05-10-2024, Dương Ngọc Đ từ nhà ở Khóm C, thị trấn S, huyện T đi bộ đến khu vực vòng xoay thuộc Khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Đồng Tháp đến quán cà phê (không nhớ tên quán) gặp một thanh niên (không rõ họ tên và địa chỉ) mua 01 bọc ma túy, với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy thì Đ bỏ bọc ma túy vào trong ống tay áo thun dài tay, màu trắng đang mặc, sau đó Đ đi bộ về nhà nghỉ H thuộc khóm B, thị trấn S, huyện T. Khi đến nhà nghỉ H thì bị lực lượng Công an huyện T phối hợp với Công an thị trấn S phát hiện thấy có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra trên người Được. Qua kiểm tra phát hiện bên trong ống tay áo thun dài tay, màu trắng đang mặc, bên tay phải có 01 bọc ny lon màu trắng, được hàn kín hai đầu, bên trong bọc nylon có chứa nhiều hạt tinh thể rắn màu trắng, được đựng trong 01 vỏ bọc nylon bên ngoài có chữ bánh gạo One One, nghi là chất ma túy nên lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ tang vật.
Vật chứng của vụ án thu giữ: 01 bọc nylon màu trắng, được hàn kín hai đầu, bên trong bọc nylon có chứa nhiều hạt tinh thể rắn màu trắng, được đựng trong 01 vỏ bọc nylon bên ngoài có chữ bánh gạo One One.
Tại bản kết luận giám định số: 1375/KL-KTHS ngày 07 tháng 10 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Tinh thể rắn chứa trong 01 bọc nylon màu trắng hàn kín hai đầu để trong 01 vỏ bọc nylon bên ngoài có chữ bánh gạo One One nêu trên gửi giám định, là chất ma túy, có khối lượng 0,346gam, loại Methamphetamine (số thứ tự 247, mục IIC, thuộc Danh mục II, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25-8-2022 của Chính phủ). Hoàn trả mẫu tinh thể rắn còn lại sau giám định trong phong bì có tổng khối lượng 0,289gam.
Tại Cáo trạng số: 64/CT-VKSTH ngày 19 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp đã truy tố Dương Ngọc Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của bị cáo như nội dung cáo trạng truy tố, bị cáo thừa nhận hành vi của bị cáo là có lỗi và vi phạm pháp luật.
Tại phần luận tội, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Dương Ngọc Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; có ông cố ngoại tên Nguyễn Văn L là liệt sĩ, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
Từ những phân tích trên Kiểm sát viên đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Dương Ngọc Đ mức hình phạt từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; Không đề nghị hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với người thanh niên (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) bán ma túy cho Đ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T chưa làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xem xét xử lý sau.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Tịch thu tiêu hủy: 0,289gam, loại Methamphetamine, hoàn lại sau khi giám định, đã được niêm phong.
Bị cáo không tham gia tranh luận.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng, Kiểm sát viên trong quá trình tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Từ khi khởi tố vụ án cho đến tại phiên tòa sơ thẩm những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, lời khai thừa nhận thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo phù hợp với nội dung cáo trạng truy tố; phù hợp với biên bản phạm tội quả tang; vật chứng thu giữ được; kết luận giám định; lời khai của người tham gia tố tụng khác và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đây là vụ án tàng trữ trái phép chất ma túy do bị cáo Dương Ngọc Đ thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, bị bắt quả tang vào ngày 05-10-2024.
[3] Căn cứ vào Kết luận giám định số: 1375/KL-KTHS ngày 07 tháng 10 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Tinh thể rắn chứa trong 01 bọc nylon màu trắng hàn kín hai đầu để trong 01 vỏ bọc nylon bên ngoài có chữ bánh gạo One One nêu trên gửi giám định, là chất ma túy, có khối lượng 0,346gam, loại Methamphetamine. Hoàn trả mẫu tinh thể rắn còn lại sau giám định trong phong bì có tổng khối lượng 0,289gam. Methamphetamine là chất được quy định tại số thứ tự 247, mục IIC, thuộc danh mục II, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25-8-2022 của Chính phủ về quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất, đây là chất cấm tàng trữ. Đồng thời qua tranh tụng tại phiên tòa bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi tội phạm của mình, như vậy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Dương Ngọc Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Điều luật trên quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) .... Methamphetamine, ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người trên 18 tuổi đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đầy đủ năng lực hành vi chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hậu quả do hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, là nguồn gốc phát sinh của nhiều tội phạm hình sự, nên cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có điều kiện giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội. Nhưng Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo trong việc lượng hình để răn đe, giáo dục bị cáo nhằm có tác dụng đấu tranh và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; có ông cố ngoại tên Nguyễn Văn L là liệt sĩ, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
Từ những tình tiết phân tích nêu trên Hội đồng xét xử xét giảm nhẹ một phần mức hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện tính nhân đạo pháp luật hình sự nước ta.
[5] Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy tại phiên tòa luận tội của Viện kiểm sát không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo làm thuê, không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo là phù hợp.
Đối với người thanh niên (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) bán ma túy cho Đ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T chưa làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xem xét xử lý sau.
[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,289gam, loại Methamphetamine, hoàn lại sau khi giám định, đã được niêm phong.
[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Dương Ngọc Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Xét thấy phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Dương Ngọc Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Dương Ngọc Đ 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù, nhưng được trừ đi những ngày bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05-10-2024 đến ngày 07-10-2024.
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 0,289gam, loại Methamphetamine, còn lại sau giám định, đã được niêm phong.
(Vật chứng nêu trên hiện tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng đang quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 21-11-2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Dương Ngọc Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 11-12-2024).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại của Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Tựu |
Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 60/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Dương Ngọc Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Dương Ngọc Đ 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù, nhưng được trừ đi những ngày bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05-10-2024 đến ngày 07-10-2024.
