TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 60/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 06/12/2024
V/v tranh chấp: “Ly hôn, nuôi con chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Nhan .
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hà Thị Thúy, bà Nguyễn Thị Bích Nga.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Hồng Quỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Đỗ Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở, Toà án nhân dân thành phố Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 631/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp: “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13/11/2024, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa ngày 28/11/2024, giữa các đương sự:
· Nguyên đơn: Chị Trần Thị Khánh H, sinh năm 1985.
ĐKHKTT: Thôn L, V, T, Hải Dương.
Hiện cư trú tại: Số E, ngõ E T, quận H, TP Hà Nội.
- Bị đơn: Anh Phạm Ngọc H1, sinh năm 1976.
ĐKHKTT và hiện cư trú tại: Số A M, phường B, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
Đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, đơn đề nghị của nguyên đơn chị Trần Thị Khánh H, thể hiện: Chị và anh Phạm Ngọc H1 được tự do tìm hiểu nhau một thời gian thì cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND phường B, thành phố H, tỉnh Hải Dương ngày 22/10/2014. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, bất đồng về mọi vấn đề trong cuộc sống. Gia đình hai bên đã hòa giải nhưng vẫn không khắc phục được. Vợ chồng đã ly thân 09 năm nay không ai quan tâm đến ai. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H1 để hai bên sớm ổn định cuộc sống; Vợ chồng có 01 con chung là Phạm Trần Thảo N, sinh ngày 04/04/2015. Sau khi ly thân, chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Hiện chị đang làm kế toán, thu nhập khoảng 20.000.000đ/tháng. Do vậy chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, chị tự nguyện không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng tiền nuôi con; Vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp với gia đình hai bên nên chị không yêu cầu Toà án giải quyết. Chị xin được vắng mặt tại phiên tòa.
Tại biên bản lấy lời khai anh Phạm Ngọc H1 trình bày: Về điều kiện kết hôn thống nhất như phần trình bày của chị H. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống đến năm 2019 thì chị H đi nước ngoài, năm 2022 chị H về nước nhưng cũng không quay về chung sống cùng anh. Vợ chồng ly thân từ năm 2019 đến nay nên tình cảm vợ chồng cũng phai nhạt dần. Nay chị H xin ly hôn, mặc dù anh không muốn nhưng chị H kiên quyết ly hôn thì tùy theo nguyện vọng của chị H; Vợ chồng có 01 con chung thống nhất như phần trình bày của chị H. Trường hợp vợ chồng ly hôn, chị H đề nghị được nuôi con và tự nguyện không yêu cầu anh cấp dưỡng nuôi con, anh đồng ý; Vợ chồng anh không có tài sản chung, nợ chung và công sức đóng góp cho gia đình hai bên. Anh xin được vắng mặt tại phiên tòa.
Tại đơn trình bày nguyện vọng của cháu N thể hiện cháu có nguyện vọng ở cùng mẹ khi bố mẹ ly hôn.
Lời khai người thân gia đình chị H thể hiện: Chị H, anh H1 lấy nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định. Quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng về mọi vấn đề trong cuộc sống. Vợ chồng đã ly thân 09 năm nay không ai quan tâm đến ai. Nay chị H xin ly hôn anh H1 đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn.
Xác minh tại khu dân cư thể hiện: Địa phương không thấy chị H sinh sống cùng anh H1 và không nắm được vợ chồng anh chị có mấy con chung.
Kiểm sát viên tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 4 Điều 147, Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, xử cho chị Trần Thị Khánh H ly hôn anh Phạm Ngọc H1; Về con chung: Đề nghị giao cháu Phạm Trần Thảo N, sinh ngày 04/04/2015 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, anh H1 không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung và có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Anh H1 đăng ký hộ khẩu thường trú và hiện đang sinh sống tại phường B, thành phố H. Chị H, anh H1 đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị H, anh H1 là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị H, anh H1 được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn theo quy định. Do vậy, quan hệ hôn nhân của chị H, anh H1 là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có sự yêu thương, chăm sóc nhau. Mâu thuẫn của anh chị đã được gia đình hòa giải nhưng vẫn không khắc phục được. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn anh H1. Anh H1 cũng xác định vợ chồng ly thân nhau lâu nên tình cảm cũng phai nhạt dần. Lời khai chị H, anh H1 về tình trạng vợ chồng và nguyên nhân mâu thuẫn phù hợp với lời khai người làm chứng. Hội đồng xét xử xét thấy chị H, anh H1 đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần xử cho chị H ly hôn anh H1 là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình.
[2.2] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Phạm Trần Thảo N, sinh ngày 04/04/2015. Chị H có nguyện vọng nuôi cháu N và tự nguyện không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng tiền nuôi con chung, anh H1 đồng ý, cháu N có nguyện vọng ở cùng mẹ khi bố mẹ ly hôn. Do vậy để đảm bảo sự ổn định cho cháu N, cần giao cháu N cho chị H tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, chấp nhận sự tự nguyện của chị H về việc không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng tiền nuôi con là phù hợp quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp cho gia đình hai bên: Chị H, anh H1 đều xác định vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung và công sức đóng góp cho gia đình hai bên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, do vậy Tòa án không xem xét giải quyết.
[2.4] Về án phí: Chị H xin ly hôn nên phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Khánh H.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị Khánh H ly hôn anh Phạm Ngọc H1.
- Về con chung: Xử giao cho chị Trần Thị Khánh H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Phạm Trần Thảo N, sinh ngày 04/04/2015 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, chấp nhận sự tự nguyện của chị H về việc không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh H1 được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
- Về án phí: Buộc chị Trần Thị Khánh H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm Hôn nhân và gia đình nhưng được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0006247 ngày 22/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Dương. Chị H đã thực hiện xong nghĩa vụ về án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Khánh H, anh Phạm Ngọc H1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Nhan |
Bản án số 60/2024/HNGĐ-ST ngày 06/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 60/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Khánh H - Phạm Ngọc H tranh chấp ly hôn, con chhung
