|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 60/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 06 - 12 - 2024
V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Hợp và ông Trần Quang Huyền
- - Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thanh Thuý - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ tham gia phiên tòa: Bà Chu Thanh Thuỷ – Kiểm sát viên.
Ngày 06/12/2024, tại Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân & gia đình thụ lý số: 249/2024/HNGĐ-ST ngày 10/10/2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2024/QĐXXST-HN&GĐ, ngày 27/11/2024, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1995;
- Bị đơn: Anh Đặng Văn Q, sinh năm 1991;
Nơi cư trú: Xóm C, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nơi cư trú: Xóm C, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
(Có mặt chị T, vắng mặt anh Q do có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản không tiến hành hòa giải được, và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Q kết hôn năm 2014, đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Từ sau khi kết hôn đến trong suốt quá trình chung sống cả hai vợ chồng đều không có tiếng nói chung, về tính cách không thể hòa hợp, thường xuyên xẩy ra cãi vã và xung đột. Năm 2022 anh Q đi xuất khẩu lao động đến tháng 6/2024 về hẳn Việt Nam sinh sống và làm ăn. Nhưng cũng từ năm 2022 cho đến khi chị có đơn ly hôn, vợ chồng chị ly thân không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Trong suốt thời gian đi xuất khẩu lao động anh Q cũng không quan tâm và chu cấp kinh tế để chị nuôi các con cho đến nay khi tình cảm sứt mẻ khi chị đưa cả hai con về nhà bố mẹ đẻ chị sinh sống và làm ăn, anh Q không có động thái níu kéo hay quan tâm gì đến gia đình. Nay chị xác định tình cảm không thể hàn gắn, không thể xây dựng được gia đình trọn vẹn cho các con, vợ chồng ly thân thời gian khá dài, việc đoàn tụ không thể thực hiện được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn, chấm dứt cuộc hôn nhân không có hạnh phúc.
Về con chung: Quá trình chung vợ chồng chị có hai con chung: cháu Đặng Hải B, sinh ngày 13/6/2015; Đặng Kiều A, sinh ngày 26/6/2019. Nay ly hôn chị đề nghị được trực tiếp nuôi cả hai con chung, yêu cầu anh Q cấp dưỡng cho mỗi con 1.000.000đ/tháng. Hai con là 2.000.000đ/tháng cho đến khi các con trưởng thành.
Về tài sản chung: Không có không đặt ra việc giải quyết.
Về nợ chung, khoản cho vay chung: Không có, không đặt ra việc giải quyết..
Tại biên bản tự khai anh Q trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị T kết hôn năm 2014, đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện Đ. Sau khi kết hôn cuộc soogns hạnh phúc, vợ chồng cùng bảo ban nhau làm ăn nhưng do công việc không thuận lợi nên năm 2022 anh đi xuất khẩu lao động và sinh sống tại S. Thời hạn lao động là 02 năm, đến năm 2024 anh về hẳn Việt Nam sinh sống và làm ăn, lúc đầu còn điện thoại hỏi thăm nhưng sau đó thưa dần và tình cảm vợ chồng không còn mặn mà. Năm 2024 anh về nước vợ chồng cũng không chung sống cùng nhau mà từ khi anh đi lao động tại nước ngoài thì chị T1 đã thuê nàh và đưa hai con đi khỏi gia đình nhà chồng. Nay chị T có đơn ly hôn, nguyện vọng của anh muốn đoàn tụ gia đình nên không đồng ý ly hôn. Trường hợp chị T cương quyết ly hôn thì anh cũng đồng ý.
Về con chung: Quá trình chung vợ chồng chị có hai con chung: cháu Đặng Hải B, sinh ngày 13/6/2015; Đặng Kiều A, sinh ngày 26/6/2019. Trường hợp cô T cương quyết đề nghị được ly hôn và đề nghị nuôi con chung, yêu cầu anh cấp dưỡng, anh đồng ý giao con cho chị T và cấp dưỡng nuôi con theo yêu cầu.
Về tài sản chung: Không có không đặt ra việc giải quyết.
Về khoản nợ chung, cho vay chung: Không có, không đặt ra việc giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Đại Từ phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng, trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng quy định tại các Điều 26, 35, 39, 68, 96, 97 và Điều 195 của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn chưa thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Đại diện VKS không có ý kiến đề nghị, kiến nghị gì.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 13, ra bản án với các nội dung sau:
- - Về quan hệ hôn nhân: Cho chị T được ly hôn anh Q.
- - Về con chung: Đề nghị giao cả hai con chung cháu Đặng Hải B, sinh ngày 13/6/2015; Đặng Kiều A, sinh ngày 26/6/2019. cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục các con chung cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
- - Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh Q có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung cùng chị T mỗi tháng 2.000.000đ, mỗi con 1.000.000đ/tháng cho đến khi trưởng thành.
- Thời điểm thực hiện cấp dưỡng từ tháng 12/2024.
- - Về tài sản chung: Không có, không đặt ra việc giải quyết
- - Về nợ chung, các khoản cho vay chung: Không có, không đặt ra việc giải quyết.
- - Án phí: Chị T phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định; anh Q phải chịu án phí về cấp dưỡng nuôi con chung.
- - Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Sau khi nghe đại diện VKS nhân dân huyện Đại Từ phát biểu ý quan điểm chấp hành pháp luật tố tụng và nội dung giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:
[1].Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án Hôn nhân và gia đình về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”. Cả nguyên đơn và bị đơn có hộ khẩu thường trú tại xóm C, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyện. Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự, xác định thẩm quyền giải quyết, xét xử của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
[2]. Về thủ tục tố tụng:
[2.1]. Về thủ tục hòa giải: Quá trình giải quyết vụ án, do bị đơn không đồng ý ly hôn nên Tòa án đã tiến hành mở phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đoàn tụ. Tuy nhiên, anh Q là bị đơn không đồng ý ly hôn nhưng vắng mặt tại phiên hòa giải. Do vậy, Tòa án lập Biên bản không tiến hành hòa giải được giữa các bên đương sự, tiến hành các thủ tục để mở phiên tòa xét xử vụ án theo quy định tại Điều 220 của của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2.2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Bị đơn anh Q vắng mặt tại phiên tòa do có đơn xin xét xử vắng mặt. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự, Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt anh P trong vụ án và giành quyền kháng cáo cho người vắng mặt theo quy định của pháp luật.
[2.3]. Về sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà: Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự nên Viện kiểm sát tham gia phiên toà là đúng quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[3.] Về nội dung vụ án:
[3.1]. Về quan hệ hôn nhân: Nguyễn Thị T và anh Đặng Văn Q kết hôn tự nguyện năm 2014, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên và được cấp giấy chứng nhận kết hôn năm ngày 22/10/2014, nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 22 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu từ sau khi anh Q đi xuất khẩu lao động tại S cho đến khi về nước năm 2024 vợ chồng ly thân, anh Q không quan tâm và chăm sóc gia đình cũng như hai con chung, vợ chồng ly thân khoảng thời gian dài mà không ai quan tâm đến cuộc sống của ai.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh Q, Hội đồng xét xử thấy rằng mặc dù anh Q không đồng ý ly hôn và đề nghị Tòa án hòa giải đoàn tụ nhưng cũng không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải đoàn tụ do Tòa án tiến hành. Anh Q cho rằng mâu thuẫn vợ chồng là nhỏ nhặt không đến nỗi phải ly hôn nên đè nghị Tòa án hòa giải đoàn tụ. Việc anh Q đề nghị đoàn tụ trong khi chỉ xuất phát từ một phía.
Hội đồng xét xử thấy, nguyện vọng xin đoàn tụ gia đình của anh Q là chính đáng, bởi mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc; để đạt được mục đích đó vợ chồng phải chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ và tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt, xong bản thân cả hai đã ly thân nhiều năm và không chung sống cùng nhau từ lâu. Cũng tại phiên tòa cho thấy thái độ cương quyết ly hôn của chị T đối với anh Q và khẳng định không còn tình cảm gì, việc anh Q không đồng ý ly hôn nhưng cũng không có biện pháp gì để khắc phục mâu thuẫn vợ chồng, tại phiên hòa giải đoàn tụ do Tòa án tiến hành, anh Q đã cố tình không đến và không có thiện chí trong việc hàn gắn tình cảm vợ chồng,gây khó khăn cho chị T trong việc giải quyết ly hôn.
Từ những căn cứ nêu trên, xét thấy có đủ căn cứ để xác định tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh Q đã mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài, việc duy trì quan hệ hôn nhân này cũng không mang lại hạnh phúc cho cả 2 bên.
Theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hoà giải tại Toà án không thành thì Toà án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được”.
Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T cho chị T được ly hôn với anh Q là phù hợp theo quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[3.2].Về con chung: Quá trình chung sống chị T và anh Q có hai con chung: cháu Đặng Hải B, sinh ngày 13/6/2015; Đặng Kiều A, sinh ngày 26/6/2019. Khi ly hôn, chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung cho đến khi trưởng thành và yêu cầu anh Q có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung mỗi cháu 1.000.000đ/tháng.
Hội đồng xét xử thấy: Hiện cả hai con chung của của chị T và anh Q đều đang sinh sống, học tập ổn định cùng chị T. Tại bản tự khai con chung thứ nhất cũng có nguyện vọng được ở cùng với mẹ là chị T, mặt khác anh Q không đồng ly hôn nhưng cũng không có ý kiến gì về con chung, mà thể hiện quan điểm nếu phái ly hôn nhất trí để chị T trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung và mức cấp dưỡng nuôi con cùng chị T mỗi tháng 2.000.000đ, mỗi con 1.000.000đ/tháng.
Xét thấy đây là ý chí tự nguyện của các bên. Căn cứ vào Điều 110, khoản 1 Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 ghi nhận việc anh Q tự nguyện đồng ý để chị T trực tiếp nuôi dưỡng con chung và có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng đối với cháu cháu Đặng Hải B, sinh ngày 13/6/2015; Đặng Kiều A, sinh ngày 26/6/2019 cùng chị T mỗi tháng 2.000.000đ (Hai triệu đồng), mỗi cháu 1.000.000đ (Một triệu đồng)/tháng.
Thời điểm thực hiện cấp dưỡng: Kể từ tháng 12/2024 cho đến khi các con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi) có khả năng lao động hoặc khi chị T có thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con.
Anh Q có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom và chăm sóc con chung theo quy định của pháp luật.
[3.3]. Về tài sản chung: Không có, không đặt ra việc giải quyết.
[3.4]. Về khoản nợ chung, các khoản cho vay chung: Không có nên không đặt ra việc giải quyết.
[4]. Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước; anh Quảng pahir chịu án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định.
[5]. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[6]. Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ tại phiên toà là phù hợp nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 271, Điều 273của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 19, 51, Điều 56, 81, 82, 83, Điều 84, Điều 110, Điều 116, Điều 118 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Khoản 1 Điều 6; điểm a khoản 5 và điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T với anh Đặng Văn Q.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Đặng Văn Q.
- Về con chung: Giao cả hai con chung: cháu Đặng Hải B, sinh ngày 13/6/2015; Đặng Kiều A, sinh ngày 26/6/2019 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục các con chung cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi) có khả năng lao động hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác về người nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm và chăm sóc con chung mà không ai được cản trở họ thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết, các bên có quyền làm đơn xin thay đổi việc nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Buộc anh Đặng Văn Q có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với cháu Đặng Hải B, sinh ngày 13/6/2015; Đặng Kiều A, sinh ngày 26/6/2019 cùng chị T mỗi tháng 2.000.000₫ (Hai triệu đồng), mỗi cháu 1.000.000đ (Một triệu đồng)/tháng.
Thời điểm thực hiện cấp dưỡng: Kể từ tháng 12/2024 cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi) có khả năng lao động hoặc khi chị T có thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con.
Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung chấm dứt theo Điều 118 Luật hôn nhân và gia đình. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về tài sản chung: Không có không đặt ra việc giải quyết.
- Về nợ chung, cho vay chung: Không có, không đặt ra việc giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, chị T được đối trừ vào khoản tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ, theo biên lai thu số 0005614 ngày 10/10/2024. Xác nhận chị T đã nộp đủ;
Anh Đặng Văn Q phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt chị T tại phiên toà. Báo cho biết đương sự có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt anh Q tại phiên tòa. Báo cho đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai hợp lệ theo quy định.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hà |
Bản án số 60/2024/HNGĐ-ST ngày 06/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Số bản án: 60/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xét mâu thuẫn vợ chồng không có khả năng đoàn tụ. HĐXX cho ly hôn
