|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC TỈNH THANH HÓA Bản án số: 60/2024/HS-ST Ngày: 28 - 11 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nghi
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Tiến Thanh
Ông Nguyễn Văn Thư
- Thư ký phiên toà : Bà Bùi Thị Khánh Trâm - Thư ký Toà án nhân dân
huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá tham
gia phiên toà: Ông Phạm Văn Dũng và bà Nguyễn Thị T - Kiểm sát viên.
Ngày 28/11/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 58/2024/HSST ngày 24 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T1 - sinh năm: 1980 tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Số CCCD: [...]. Nơi ĐKNKTT: Khu phố C, phường N, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lái xe; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Văn L, sinh năm 1935; con bà: Lê Thị T2, sinh năm 1952; có ba vợ và có 04 người con, con lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền sự: Không; tiền án: Không
Nhân thân: Năm 2012 bị Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, xử phạt 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội « Đánh bạc »
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 31/8/2024, tạm giam từ ngày 06/9/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Thanh Hóa. (có mặt)
- Bị hại: Chị Trịnh Thị Hoa L1, sinh năm: 1988, (có đơn vắng mặt)
Trú tại: Thôn N, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Người làm chứng:
- Bà Trịnh Thị L2, sinh năm: 1974, (có đơn vắng mặt)
- Ông Ngọ Văn T3, sinh năm: 1969, (vắng mặt)
- Anh Hoàng Đ, sinh năm: 1980, (vắng mặt)
- Chị Vũ Thị H, sinh năm: 1990, (vắng mặt)
- Chị Lê Thị H1, sinh năm: 1990, (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Phường N, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn Y, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn Y, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 35 phút ngày 07/7/2021, sau khi uống rượu về nhà, Nguyễn Văn T1 gọi điện thoại cho vợ là chị Trịnh Thị Hoa L1 - sinh năm 1988, trú tại thôn N, xã Đ, huyện H, đang may quần áo tại xưởng may của gia đình chị Trịnh Thị L2, sinh năm 1974, là chị gái của chị L1, ở thôn N, xã Đ, huyện H. Lúc này, T1 hỏi chị L1 “Có về không” thì chị L1 trả lời “Để em may mấy cái nữa rồi về” và tắt điện thoại. T1 tiếp tục gọi điện thoại nhiều lần để yêu cầu chị L1 phải về nhà ngay nhưng chị L1 không nghe điện thoại. T1 gọi điện thoại cho chị L2 hỏi “Chị bắt con L1 ở lại làm thêm à, cho nó về không”. Chị L2 trả lời “Không ai bắt nó ở lại làm cả”. T1 bức xúc vì vợ không nghe lời mình nên đã lấy con dao gọt hoa quả đang để ở bàn uống nước rồi bỏ vào túi quần và đi đến nhà chị L2 để tìm chị L1 mục đích là để rạch mặt cho hả giận. T1 điều khiển xe mô tô đi đến xưởng may của gia đình chị Trịnh Thị L2, ở thôn N, xã Đ, huyện H. Khi đi đến trước X, T1 dựng xe mô tô ở ngoài đường và chạy vào trong xưởng nhìn thấy chị L1 đang ngồi làm việc ở bàn may, T1 đi lại chỗ chị L1, tay phải rút con dao từ túi quần ra và nói “Hôm nay tao giết mày, giết mày rồi tao chết cũng được”. Sau đó, T1 giơ dao lên cao rạch hai nhát theo hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái hướng về phía chị L1 nhưng chị L1 nghiêng người tránh được. T1 dùng tay trái túm tóc chị L1 làm chị L1 ngã xuống sàn và T1 cúi người cầm dao rạch liên tiếp nhiều nhát vào vùng mặt, đầu của chị L1, lúc này chị L1 cố vùng vẫy tay chân, còn chị L2 la hét kêu cứu và cầm chiếc ghế nhựa giơ lên khua khoắng về phía T1. Chị L1 vẫn cố gắng vùng vẫy nhưng T1 vẫn túm tóc kéo chị L1 về phía cửa nhà xưởng. Sau đó, T1 nhìn thấy có đông người nên đã bỏ dao xuống sàn rồi chạy ra đường lên xe mô tô bỏ đi. Sau đó, chị L1 được mọi người đưa đến Bệnh viện Đa khoa huyện H và điều trị; còn Nguyễn Văn T1 bỏ trốn khỏi địa phương và bị bắt theo Quyết định truy nã của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H.
Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể lúc 08 giờ 00 phút ngày 09/7/2021 tại Bệnh viện Đa khoa huyện H, xác định chị Trịnh Thị Hoa L1 bị thương tích gồm:
- 03 (ba) vết thương trên vùng má phải đã được khâu có chiều dài lần lượt là 07 cm; 6,5 cm và 05 cm.
- Phía trước tai phải có 01 vết thương đã được khâu dài 03 cm.
- Vành tai phải có vết thương rách sụn, vành tai đã khâu 2,5 cm và 01 vết xây xước da, kích thước 02 cm x 0,2 cm.
- Phía sau dưới tai phải có vết xây xước da, kích thước 0,8 cm x 0,1 cm.
- Phía dưới mắt phải có có vết xây xước da, kích thước 03 cm x 0,05 cm.
- Vùng trên sống mũi có vết xây xước da, kích thước 1,2 cm x 0,1 cm.
- Phía trên môi trái có vết xước da nhẹ, dài 02 cm.
- Gò má trái có vết thương hình vòng cung, đã được khâu dài 08 cm.
- Phía trước tai trái có vết thương, đã được khâu dài 0,5 cm.
- Vành tai trái có vết thương rách trước, sau, rách sụn vành tai, đã được khâu, dài 4,5 cm.
- Mặt trước vành tai có vết xây xước da, kích thước 02 cm x 0,1 cm.
- Vùng đầu phía sau tai trái có vết rách da, đã được khâu dài 2,5 cm.
- Phía dưới gò má trái có vết rách da, đã được khâu dài 05 cm.
- Vùng gò má trái có 04 vết xây xước da nhẹ, mỗi vết có chiều dài 03 cm.
- Vùng cổ phải có vết xây xước da nhẹ, dài 02 cm.
- Phía sau cổ có vết xây xước da, kích thước 0,2 cm x 0,7 cm.
- Vùng vai phải ngang D1, cách D1 04 cm có vết xây xước da, kích thước 2,5 cm x 0,2 cm.
- Mặt trong cánh tay phải có 02 vết thương, đã được khâu, có chiều dài lần lượt là 05 cm và 07 cm.
- Mặt sau, trong cẳng tay phải có 03 vết xây xước da trên diện 4,5 cm x 03 cm, bầm tím, kích thước lần lượt là 02 cm x 0,3 cm; 03 cm x 0,4 cm; 03 cm x 0,1 cm.
- Mặt mu khớp bàn ngón cái bàn tay phải có vết xây xước da, kích thước 1,2 cm x 0,3 cm.
- Mặt trước 1/3 trên cẳng tay trái có 02 vết thương, đã được khâu, có chiều dài lần lượt là 4,5 cm và 0,6 cm.
Tại bản kết luận giám định Pháp y về thương tích số 512/2021/TTPY ngày 27/7/2021 của Trung tâm Pháp y tỉnh T, kết luận: Tại thời điểm giám định Pháp y về thương tích tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với chị Trịnh Thị Hoa L1 là 42 % (Bốn mươi hai phần trăm).
Tại bản kết luận giám định số: 2563/PC09 ngày 10/8/2021 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Chất màu nâu đỏ bám dính trên lưỡi dao gửi giám định là máu của một người nữ giới. Người nữ giới này có trùng khớp với kiểu gen của chị Trịnh Thị Hoa L1.
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là phù hợp với những tài liệu chứng cứ đã thu thập được.
Quá trình điều tra, khám nghiệm hiện trường, cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng liên quan vụ án:
- 01 (một) con dao bằng kim loại dài 29,5 cm, màu trắng sáng (cán dao dài 12 cm, lưỡi dao dài 17,5 cm, rộng 04 cm, một cạnh sắc, một cạnh bằng, mũi dao nhọn, lưỡi dao bám dính chất màu nâu đỏ nghi máu);
- 01 (một) cuốn hộ chiếu số: C3899498 mang tên Nguyễn Văn T1;
- 01 (một) giấy phép lái xe số [...] và 01 giấy CMND số [...], cấp ngày 27/7/2009 đều mang tên Nguyễn Văn T1;
- 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone màu gold và 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Vivo màu trắng là vật chứng của vụ án, Cơ quan CSĐT Công an huyện H chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện H để bảo quản và xử lý thi hành theo bản án.
Đối với 01 (một) cuốn hộ chiếu số K0192890 mang tên Nguyễn Văn D (sinh năm: 1996, trú tại thôn P, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa) và 01 (một) cuốn hộ chiếu số C6165608 mang tên Mai Văn M (sinh năm: 1979, trú tại thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa) không liên quan đến vụ án, Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã trả lại cho chủ sở hữu.
Sau khi gây thương tích cho bị hại, bị cáo đã bồi thường số tiền 19.500.000 đồng.
Bị cáo đã được cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đã thông báo kết quả giám định nhưng không có ý kiến khác.
Tại bản Cáo trạng số: 61/CT – VKS HL ngày 22 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, truy tố bị cáo Nguyễn Văn T1, về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T1, phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Đề nghị tuyên phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T1, mức án từ 07 năm 06 (sáu) tháng tù đến 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 31/8/2024.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại rút yêu cầu nên không đề nghị xem xét.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của BLHS, điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao bằng kim loại dài 29,5 cm, màu trắng sáng (cán dao dài 12 cm, lưỡi dao dài 17,5 cm, rộng 04 cm, một cạnh sắc, một cạnh bằng, mũi dao nhọn). Trả lại cho bị cáo các tài sản và giấy tờ tùy thân: 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone màu gold và 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Vivo màu trắng do không liên quan đến vật chứng của vụ án; 01 (một) cuốn hộ chiếu số: C3899498 mang tên Nguyễn Văn T1; 01 (một) giấy phép lái xe số [...] và 01 giấy CMND số [...], cấp ngày 27/7/2009 đều mang tên Nguyễn Văn T1. Tài sản và các giấy tờ tùy thân của bị cáo đã được chuyển bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc để bảo quản và xử lý theo bản án.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của BLTTHS, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, đối đáp về tội danh và hình phạt như Viện kiểm sát buộc tội đề nghị. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về đoàn tụ chăm sóc gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của Cơ quan điều tra, của Điều tra viên, của Cơ quan Viện kiểm sát và Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án là đúng quy định của pháp luật, các quyết định, hành vi tố tụng được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự tố tụng. Quá trình điều tra không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, đảm bảo tính khách quan trong hoạt động điều tra, truy tố, bảo đảm quyền và nghĩa vụ cho những người tham gia tố tụng khi khai báo. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiền hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2].Về căn cứ xác định hành vi phạm tội: Bị cáo và bị hại là vợ chồng hợp pháp nhưng chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt, ghen tuông, tức giận vô cớ nên bị cáo đã mang theo hung khí và điều khiển xe mô tô từ B vào cơ sở may mặc nơi chị L1 làm việc để thực hiện hành vi phạm tội. Sự việc sau đó xảy ra vào khoảng 21 giờ 35 phút cùng ngày 07/7/2021 tại xưởng may của gia đình chị Trịnh Thị L2 (chị gái bị hại) ở thôn N, xã Đ, huyện H. Mặc dù thấy rõ bị hại đang làm việc nhưng Nguyễn Văn T1 đã rút dao để tấn công ngay lập tức liên tiếp vào các vị trí vùng mặt, đầu, vai, tay, dùng tay túm tóc kéo lê bị hại từ vị trí làm việc đến phía ngoài cửa ra vào xưởng mặc cho bị hại kêu la, gào thét, vùng vẫy, che đỡ, van xin, thậm chí có người can ngăn nhưng bị cáo vẫn tiếp tục to tiếng chửi bới, hăm dọa và tiếp tục tấn công bằng cách dùng dao rạch vào vùng mặt, đầu, tay của bị hại gây nên hậu quả cho chị L1 bị tổn thương cơ thể 42%.
[2.1]. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với diễn biến hành vi và lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp vật chứng được thu giữ, các đoạn Video thu được tại xưởng may, kết quả giám định Pháp y về thương tích, lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thu thập theo trình tự luật định. Do đó, đủ căn cứ để khẳng định, người bị hại bị tổn thương cơ thể 42 % là do bị cáo trực tiếp dùng hung khí nguy hiểm tác động tấn công gây nên. Hành vi của bị cáo đã có đủ các yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” với tính chất định khung tăng nặng “ tính chất côn đồ” được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[3]. Xét tính chất vụ án thấy: Bản thân bị cáo biết rõ tình trạng công việc của vợ mình nhưng vì suy diễn ghen tuông, bản tính ích kỷ, nhỏ nhen, cố chấp, hung hãn, bất chấp coi thường pháp dẫn đến hành vi phạm tội. Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe, gây tổn hại về vật chất, tinh thần, để lại hậu quả xấu cho bị hại, gây ảnh hưởng đến công tác bảo đảm an ninh trật tự và an toàn xã hội tại địa phương, gây tâm lý hoang mang cho người thân và công đồng dân cư. Do đó, với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo thì cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4]. Xét tình tiết tăng nặng, thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo được coi là tình tiết định khung tăng nặng TNHS theo khoản 3 Điều 134 BLHS nên không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm k khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[4.1]. Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không quanh co chối tội, thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Sau khi gây thương tích cho bị hại đã thông qua người thân để tự nguyện bồi thường; gia đình bị cáo có mẹ đẻ là người có công; người bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, cần xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài các tình tiết giảm nhẹ trên thì không còn căn cứ xem xét tình tiết giảm nhẹ nào khác.
[5]. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, thấy: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS, lẽ ra cần xem xét áp dụng mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt quy định nhưng vì tính chất, mức độ phạm tội quyết liệt, bản thân bị cáo đã có nhân tân không tốt, nên cần phải áp dụng mức hình phạt tương xướng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ một thời gian, để bị cáo thấy được tính nghiêm minh của pháp luật mà yên tâm cải tạo, để sau khi được mãn hạn tù trở về cộng đồng sinh sống, trở thành công dân lương thiện có ích cho gia đình và xã hội.
[6]. Về trách nhiệm yêu cầu bồi thường thiệt hại: Quá trình điều tra, chị Trịnh Thị Hoa L1 yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn T1 phải bồi thường tổng số tiền là 96.025.000 đồng, bao gồm: Chi phí điều trị tại Bệnh viện Đ, tiền bồi thường tổn thất tinh thần và các chi phí thiệt hại khác trong quá tình thẩm mỹ vết thương, số tiền yêu cầu bồi thường trên bị cáo đã bồi thường được một phần trong giai đoạn điều trị tại Bệnh viện Đ. Tại đơn đề nghị ngày 22/11/2024, chị L1 rút toàn bộ yêu cầu bồi thường, thấy việc không yêu cầu bị cáo phải tiếp tục bồi thường là tự nguyện và phù hợp với pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8]. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 của BLHS, điểm c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 con dao bằng kim loại dài 29,5 cm, màu trắng sáng (cán dao dài 12 cm, lưỡi dao dài 17,5 cm, rộng 04 cm, một cạnh sắc, một cạnh bằng, mũi dao nhọn không có giá trị sử dụng. Trả lại cho bị cáo giấy tờ tùy thân và các tài sản bị thu giữ nhưng không phải là vật chúng gồm: 01 (một) cuốn hộ chiếu số: C3899498 mang tên Nguyễn Văn T1; 01 (một) giấy phép lái xe số [...] và 01 giấy CMND số [...], cấp ngày 27/7/2009 đều mang tên Nguyễn Văn T1; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone màu gold và 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Vivo màu trắng.
Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T1 07 (bảy) năm, 06 (sáu) tháng tù, thời hạn từ tính từ ngày 31/8/2024.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại rút yêu cầu nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 của BLHS, điểm c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 con dao có đặc điểm được mô tả trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 24 tháng 10 năm 2024. Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone màu gold, 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Vivo màu trắng, 01 (một) cuốn hộ chiếu số: C3899498 mang tên Nguyễn Văn T1; 01 (một) giấy phép lái xe số [...] và 01 giấy CMND số [...], cấp ngày 27/7/2009 đều mang tên Nguyễn Văn T1. tài sản và giấy tờ nhân thân không phải là vật chứng hiện được bàn giao theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24 tháng 10 năm 2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc để bảo quản và xử lý thi hành theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí HSST.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 61, 62 và điều 331 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận;
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Nghi |
Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA về hình sự sơ thẩm (tội cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 60/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
