Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUY ĐỨC

TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 60/2024/HSST

Ngày 25 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Quang Trung.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Đức Minh và ông Phạm Thiên Viết.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Hằng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Tuy Đức.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 58/2024/HSST ngày 23/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2024/QĐXXST-HS ngày 31/10/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 58/2024/TB-TA ngày 07/11/2024 đối với bị cáo:

Đặng Thị H (tên gọi khác: Không), sinh năm 1984 tại tỉnh Quảng Nam; nơi đăng ký thường trú: Thôn G, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Đặng Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị S (sinh năm 1952); có 03 con (lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2011); tiền án; tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú – có mặt.

Bị hại: Anh Nguyễn Duy N, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn G, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông – có mặt.

Người làm chứng:

  • - Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn G, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông – có mặt.
  • - Chị Nguyễn Thị Nhã P, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn G, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông – vắng mặt.
  • - Anh Đặng Văn L, sinh năm 1982; Địa chỉ: Thôn D, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông – vắng mặt.
  • - Bà Ngô Thị T1, sinh năm 1971; Địa chỉ: Thôn G, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông – vắng mặt.
  • - Ông Trương Công V, sinh năm 1979; Địa chỉ: Thôn G, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông – vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 16/11/2023, Đặng Thị H, đang bán bánh mỳ ở trước cửa nhà mình thuộc thôn H, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông thì thấy Nguyễn Thị T, sinh năm: 1991, trú tại: thôn G, xã Q, huyện T (T là vợ hiện tại của chồng cũ H) điều khiển xe mô tô đi ngang qua, nghĩ đến việc trước đó T đánh con gái mình nên H điều khiển xe mô tô đuổi theo mục đích để hỏi rõ lý do tại sao lại đánh con gái H, đi được khoảng 100 mét thì H đuổi kịp và chặn xe T lại làm xe do T điều khiển ngã xuống đường. Sau đó, H và chị T xảy ra mâu thuẫn cãi nhau qua lại, nhưng được người đi đường can ngăn nên cả hai đi về. H điều khiển xe về nhà tiếp tục bán bánh mỳ, còn T gặp Nguyễn Duy N, sinh năm: 1991, trú tại: thôn G, xã Q, huyện T (em trai của T) chở con đi học về chạy ngang qua nên T gọi N và kể lại sự việc cho N nghe. Bực tức vì chị mình bị chặn đường nên N điều khiển xe mô tô đi đến nhà H. T lo sợ N đánh H nên liền nhờ người đi đường (không xác định được nhân thân, lai lịch) chở đi theo N. Khi đến nhà H thì thấy H đang đứng bán bánh mỳ nên N xuống xe tiến đến nói chuyện với H về việc chặn đường và đẩy ngã xe của chị T thì hai bên xảy ra mâu thuẫn cãi nhau. H chửi bới xúc phạm đến Năng và chị T. Đồng thời, H dùng tay phải câm một chảo bằng kim loại, đánh một phát từ sau ra trước từ phải qua trái trúng vào vùng mặt bên trái của N gây thương tích cho N. Do bị H chửi và đánh đau nên N dùng tay trái cầm mũ bảo hiểm (lúc này đang đội trên đầu) đánh một phát từ sau ra trước từ trên xuống dưới trúng vào vùng trán bên phải của H làm mũ bảo hiểm bị vỡ gây ra một vết thương rách da. Thấy N bị đánh T tiến đến giằng co dùng tay, mũ bảo hiểm đánh vào người H nhưng không gây thương tích. Sau đó, mọi người can ngăn đưa cả 02 đi bệnh viện, H được điều trị tại Trung tâm y tế huyện Đ, N được đi cấp cứu điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Đ.

Tại bản kết luận giám định của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Duy N tại thời điểm giám định là: 25% (hai mươi lăm phần trăm), vết thương do vật tày tác động trực tiếp gây nên.

Tại bản kết luận giám định của Trung tâm pháp y tỉnh Đ, kết luận đối với Đặng Thị H bị 01 sẹo phần mềm vùng trán phải kích thước nhỏ, tỷ lệ 03%.

Vật chứng đã thu giữ: 01 camera màu trắng - đen, bên ngoài in dòng chữ HKVISION, Model: DS2CV2Q21FDIW (đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong; 01 camera màu trắng - đen, bên ngoài in dòng chữ EZVIZ, Model: CS-C6N (đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong); 18 mảnh vỡ nhựa màu trắng, đen không rõ hình dạng kích thước: 02 mảnh xốp màu trắng, hình bán cầu (dạng xốp dùng để lót bên trong mũ bảo hiểm); 01 chảo kim loại đáy bằng, đường kính 16cm, tay cầm dài 10cm.

Cáo trạng số 60/CTr-VKS ngày 17/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức đã truy tố bị cáo Đặng Thị H về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã xác định: Do có mâu thuẫn cá nhân nên khoảng 07 giờ ngày 16/11/2023, tại khu vực vỉa hè, trước nhà Đặng Thị H thuộc thôn H, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông, Đặng Thị H đã có hành vi dùng chảo bằng kim loại đánh vào vùng mặt bên trái của anh Nguyễn Duy N gây thương tích với tỉ lệ là 25% (hai mươi lăm phần trăm); hành vi của bị cáo H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đặng Thị H phạm tội “Cố ý gây thương tích”, áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Thị H từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm.

Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho bị cáo H: 01 (một) camera màu trắng - đen, bên ngoài in dòng chữ HKVISION, Model: DS2CV2Q21FDIW (đã qua sử dụng. không kiểm tra tình trạng bên trong); 01 (một) camera màu trắng - đen, bên ngoài in dòng chữ EZVIZ, Model: CS-C6N (đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong).

Tịch thu tiêu hủy đối với 18 mảnh vỡ nhựa màu trắng, đen không rõ hình dạng kích thước, 02 mảnh xốp màu trắng, hình bán cầu (dạng xốp dùng để lót bên trong mũ bảo hiểm), 01 chảo kim loại đáy bằng, đường kính 16cm, tay cầm dài 10cm.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị hại Nguyễn Duy N có đơn yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 200.000.000 đồng. Gia đoạn chuẩn bị xét xử, bị cáo H đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho anh N, anh N có đơn không yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết. Trả lại cho bị cáo H 5.000.000 đồng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Đức

Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Thị H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như tại cơ quan điều tra và thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức truy tố bị cáo về tội Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự là đúng, không oan; bị cáo không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với tài liệu, chứng cứ được thu thập lưu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa và phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Xuất phát từ mâu thuẫn cá nhân nên khoảng 07 giờ ngày 16/11/2023, tại khu vực nhà Đặng Thị H thuộc thôn H, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông, Đặng Thị H đã có hành vi dùng chảo bằng kim loại đánh vào vùng mặt bên trái của anh Nguyễn Duy N gây thương tích với tỉ lệ là 25% (hai mươi lăm phần trăm). Vì vậy, có đủ căn cứ pháp lý để kết luận bị cáo Đặng Thị H phạm tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết “Dùng hung khí nguy hiểm” quy định tại điểm a khoản 1; điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Điều 134 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

a, Dùng hung khí nguy hiểm ...;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

đ, Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

...”

Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật.

  1. Xét tính chất vụ án do bị cáo Đặng Thị H gây ra là nghiêm trọng; bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện; hành vi dùng chảo bằng kim loại đánh gây thương tích cho anh N đã trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự trị an tại địa phương.
  2. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho anh N số tiền 80.000.000 đồng và được anh N làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Kết hợp tình tiết giảm nhẹ nêu trên để Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo và xét thấy không cần thiết phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho hưởng án treo để tự học tập, cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của gia đình và chính quyền địa phương cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo và thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị hại Nguyễn Duy N có đơn yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 200.000.000 đồng. Gia đoạn chuẩn bị xét xử, bị cáo H đã bồi thường 80.000.000 đồng cho anh N, anh N có đơn không yêu cầu bồi thường thêm nên không xem xét giải quyết. Trả lại cho bị cáo H 5.000.000 đồng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Đức.
  4. Về vật chứng:

    Đối với 02 camera màu trắng – đen, không liên quan đến vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho bị cáo H là đúng quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Đối với 18 mảnh vỡ nhựa màu trắng, đen; 02 mảnh xốp màu trắng, 01 chảo kim loại đáy bằng, đường kính 16cm, tay cầm dài 10cm là vật chứng của vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  5. Đối với hành vi của Nguyễn Duy N, quá trình điều tra xác định: Do bị H chửi và đánh gây thương tích trước, N bị kích động mạnh nên ngay tức khắc đã dùng mũ bảo hiểm đang đội trên đầu đánh vào vùng đầu của H với tỷ lệ thương tích 03% không đủ căn cứ để xem xét xử lý hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã chuyển hồ sơ cho Công an huyện T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
  6. Đối với hành vi của Nguyễn Thị T sau khi thấy H đánh N bị thương nên đã tiếp tục dùng mũ bảo hiểm đánh vào người của H nhưng do không để lại thương tích gì nên không đề cập xử lý.
  7. Về án phí: Bị cáo Đặng Thị H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  8. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Đặng Thị H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

  1. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Thị H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 22/11/2024.
  2. Giao bị cáo Đặng Thị H cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông phối hợp cùng gia đình quản lý, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

    Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo H đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho anh N, anh N có đơn không yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết. Trả lại cho bị cáo H 5.000.000 đồng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Đức theo Giấy nộp tiền ngày 19/9/2024.
  4. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho bị cáo H: 02 camera màu trắng - đen,

    Tịch thu tiêu hủy đối với 18 mảnh vỡ nhựa màu trắng, đen không rõ hình dạng kích thước, 02 mảnh xốp màu trắng, hình bán cầu (dạng xốp dùng để lót bên trong mũ bảo hiểm), 01 chảo kim loại đáy bằng, đường kính 16cm, tay cầm dài 10cm.

    (Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/10/2024 giữa Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Đức).

  5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Điều 23, Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Đặng Thị H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Nông;
  • - VKSND tỉnh Đắk Nông;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông;
  • - Phòng PC 06, PC 10 - CA tỉnh Đắk Nông;
  • - VKSND huyện Tuy Đức;
  • - CA huyện Tuy Đức;
  • - Chi Cục THADS huyện Tuy Đức;
  • - Bị cáo; đương sự;
  • - Lưu, HS.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa

Phan Quang Trung

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2024/HSST ngày 25/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 60/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger