Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH HẬU GIANG

Bản án số: 60/2024/HS-ST

Ngày: 25 – 11 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Hoài Ân

- Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Bỉnh
  2. Ông Võ Văn Trường

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Võ Minh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Thắm - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Toà án nhân dân huyện Châu Thành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 77/2024/HS-ST ngày 25 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024.

- Đối với các bị cáo:

  1. Bị cáo Bùi Nhật Q, sinh ngày 01/10/2001; tại huyện C, tỉnh Hậu Giang: Tên gọi khác: Không: Nơi cư trú: Ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 5/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Bùi Văn T, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1974; Sống chung như vợ chồng với Lê Hoàng Ngọc D, sinh năm 2005 (Hiện không còn sống chung). Tiền sự: Không; Tiền án: Không. Bị cáo tại ngoại; Bị cáo có mặt tại tòa.
  2. Bị cáo Bùi Minh K, sinh ngày 12/7/1995; tại huyện C, tỉnh Hậu Giang: Tên gọi khác: Không: Nơi cư trú: Ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Bùi Văn T, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1974; Họ tên vợ: Đào Thị O, sinh năm 1996, con có 01 người sinh năm 2022; Tiền sự: Không; Tiền án: Không. Bị cáo tại ngoại; Bị cáo có mặt tại tòa.

- Người bị hại: Lê Hoàng Ngọc D, sinh ngày 01/01/2005 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

Nơi thường trú: Ấp T, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ.

Nơi ở hiện nay: Đang chấp hành án tại Trại Giam C1 - Bộ C2 thuộc xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Lê Văn H1, sinh năm 1972 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

Nơi thường trú: Ấp T, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ.

Chỗ ở hiện nay: Số A khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có mối quan hệ tình cảm từ trước nên vào khoảng tháng 02/2020 Bùi Nhật Q và Lê Hoàng Ngọc D đã tự nguyện quan hệ tình dục nhiều lần và sống chung như vợ chồng tại nhà của Q thuộc ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang, sau đó D mang thai và sinh Bùi Nhật C, sinh ngày 01/11/2020 tại Bệnh viện Đ. Quá trình điều tra xác định Lê Hoàng Ngọc D còn tự nguyện quan hệ tình dục nhiều lần với Bùi Minh K vào khoảng tháng 12/2019 đến đầu năm 2020 tại nhà trọ 999 trên địa bàn xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang; Dung tự nguyện quan hệ tình dục nhiều lần với Hồ Hoàng P vào khoảng cuối tháng 11/2018 tại nhà của P và tại nhà T đường C, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ; Dung tự nguyện quan hệ tình dục nhiều lần với Phạm Minh L vào khoảng đầu năm 2019 tại nhà của D, nhà của L.

Căn cứ Kết luận giám định số 788/KL-KTHS, ngày 22/02/2024 của Phân Viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận Bùi Nhật Q và Bùi Nhật C không có quan hệ huyết thống cha - con; Lê Hoàng Ngọc D và Bùi Nhật C có quan hệ huyết thống mẹ - con.

Căn cứ Kết luận giám định số 1852/KL-KTHS, ngày 07/5/2024 của Phân Viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận Bùi Minh K, Phạm Minh L, Hồ Hoàng P với Bùi Nhật C không có quan hệ huyết thống cha - con.

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện Lê Hoàng Ngọc D, sinh ngày 01/01/2005, tại thời điểm Q và K quan hệ tình dục với D thì D được hơn 14 tuổi nhưng chưa đủ 16 tuổi.

Quá trình điều tra, Bùi Nhật Q và Bùi Minh K đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, lời thừa nhận của các bị can phù hợp với tài liệu chứng cứ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã thu thập. Q và K đã tự nguyện mỗi người bồi thường cho D với số tiền 10.000.000 đồng, Q và K có ông ngoại là người có công với cách mạng và D yêu cầu không xử lý hình sự đối với Q và K.

Đối với hành vi của Phạm Minh L và Hồ Hoàng P quan hệ tình dục với Lê Hoàng Ngọc D trên địa bàn quận B, quận C và quận N, thành phố Cần Thơ, tại thời điểm thực hiện hành vi L và P chưa đủ 18 tuổi, không đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 145 Bộ luật Hình sự. Ngày 23/8/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã chuyển thông tin về tội phạm theo Công văn số 259/CV-ĐTTH đến Cơ quan CSĐT Công an quận B, quận C và quận N, thành phố Cần Thơ để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại Cáo trạng số 68/CT-VKS-HCT, ngày 23/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang đã quyết định truy tố bị cáo Bùi Nhật Q và Bùi Minh K về tội Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự;

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo Bùi Nhật Q và Bùi Minh K. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 145, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Nhật Q và Bùi Minh K từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Ngoài ra còn đề xuất xử lý vật chứng và án phí của vụ án.

Tại phiên toà, bị cáo Q và bị cáo K thống nhất với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, thống nhất với tội danh và khung hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị với Hội đồng xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. Quá trình điều tra, truy tố các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và pháp luật có liên quan.
  2. Tại phiên tòa bị cáo Bùi Nhật Q và bị cáo Bùi Minh K đã thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã quy kết. Lời thừa nhận của các bị cáo là thống nhất nhau như các lời khai trong quá trình điều tra, truy tố. Phù hợp với kết luận giám định, với các tài liệu và các chứng cứ khác đã thu thập được. Từ đó cho thấy cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ.
  3. Về hành vi của các bị cáo: Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại; kết luận giám định pháp y về tình dục và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng tháng 02/2020 Bùi Nhật Q và Lê Hoàng Ngọc D, sinh ngày 01/01/2005 đã tự nguyện quan hệ tình dục nhiều lần và chung sống như vợ chồng tại nhà của Q thuộc ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Trước đó, D còn tự nguyện quan hệ tình dục nhiều lần với Bùi Minh K vào khoảng tháng 12/2019 đến đầu năm 2020 tại nhà trọ 999 trên địa bàn xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Tại thời điểm Q và K quan hệ tình dục với D thì Q và K đã đủ 18 tuổi, D được hơn 14 tuổi nhưng chưa đủ 16 tuổi. Hành vi nêu trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đã truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
  4. Xét hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó không chỉ xâm phạm đến sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần của bị hại. Ngoài ra, hành vi của bị cáo cũng gây những ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn hóa, thuần phong mỹ tục của địa phương, gây bất bình trong dư luận nhân dân. Do đó, cần phải xử lý nghiêm, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục các bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.
  5. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi. Sau khi phạm tội, đã tự nguyện bồi thường tổn thất về tinh thần cho bị hại, được bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  6. Về hình phạt: Do các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo K hiện đang bị suy thận nặng, bị cáo Q hiện đang trực tiếp nuôi con của bị hại nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới mức của khung hình phạt như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
  7. Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo Q và K mỗi bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại với số tiền 10.000.000 đồng để lo cho bị hại mặc dù bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
  8. Án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 145; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự

Tuyên bố bị cáo Bùi Nhật Q và bị cáo Bùi Minh K phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.

Xử phạt Bùi Nhật Q 12 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.

Xử phạt Bùi Minh K 12 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.

Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; các Điều 23, 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án:

Buộc bị cáo Bùi Nhật Q và bị cáo Bùi Minh K mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Hoài Ân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 25/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG về giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi

  • Số bản án: 60/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nhựt và Quang phạm tội giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger