Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ HOÀNG MAI

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 60/2024/HS-ST

Ngày 18-11-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Huy.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Đức Thịnh và bà Trần Thị Thanh Hương.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Hà Đức Thắng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 60/2024/HSST ngày 17 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 83/QĐXXST – HS ngày 07 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Đình C; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

    Sinh ngày: 10/10/1985, tại thị xã H, tỉnh Nghệ An.

    Nơi cư trú: Thôn F, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An

    Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.

    Nghề nghiệp: Lao động tự do;

    Trình độ học vấn: 09/12.

    Họ tên cha: Nguyễn Đình L; Sinh năm: 1964.

    Họ tên mẹ: Lê Thị H; Sinh năm: 1966.

    Anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là thứ nhất.

    Vợ: Nguyễn Thị O, sinh năm 1983

    Con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2011

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân:

    • + Ngày 23/10/2014 bị Công an phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc”.
    • + Ngày 06/7/2020 bị Công an thị xã H, tỉnh Nghệ An xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc”.
    • + Ngày 22/12/2021 bị Công an xã Q, thị xã H xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc”.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/7/2024 đến ngày 15/7/2024, sau đó bị áp dụng biện pháp ngăn chặn C1 đi khỏi nơi cư trú cho đến nay (Có mặt).

  2. Họ và tên: Lê Văn L1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

    Sinh ngày: 06/8/1988, tại thị xã H, tỉnh Nghệ An.

    Nơi cư trú: thôn G, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An

    Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.

    Nghề nghiệp: Thợ mộc;

    Trình độ học vấn: 12/12.

    Họ tên cha: Lê Văn P, sinh năm 1966.

    Họ tên mẹ: Trần Thị L2, sinh năm 1968.

    Anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là con thứ hai.

    Vợ: Lê Thị H1, sinh năm 1991

    Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2012

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/7/2024 đến ngày 15/7/2024, sau đó bị áp dụng biện pháp ngăn chặn C1 đi khỏi nơi cư trú cho đến nay (Có mặt).

  3. Họ và tên: Lê Thạc S; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

    Sinh ngày: 09/10/1959, tại thị xã H, tỉnh Nghệ An.

    Nơi cư trú: thôn F, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An

    Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.

    Nghề nghiệp: Lao động tự do;

    Trình độ học vấn: 03/10.

    Họ tên cha: Lê Thạc K (đã chết)

    Họ tên mẹ: Lê Thị M (đã chết).

    Anh chị em ruột có 05 người, bị cáo là thứ hai.

    Vợ: Nguyễn Thị T (đã chết)

    Con: Có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1980, con nhỏ nhất sinh năm 1986

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân:

    • + Ngày 21/6/2015 bị Công an thị xã H, tỉnh Nghệ An xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc”.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/7/2024 đến ngày 15/7/2024, sau đó bị áp dụng biện pháp ngăn chặn C1 đi khỏi nơi cư trú cho đến nay (Có mặt).

  4. Họ và tên: Nguyễn Đình C2; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

    Sinh ngày: 02/02/1971, tại thị xã H, tỉnh Nghệ An.

    Nơi cư trú: thôn F, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An

    Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.

    Nghề nghiệp: Lao động tự do;

    Trình độ học vấn: 07/10.

    Họ tên cha: Nguyễn Đình M1 (đã chết).

    Họ tên mẹ: Lê Thị N (đã chết).

    Anh chị em ruột có 06 người, bị cáo là thứ sáu.

    Vợ: Nguyễn Thị M2, sinh năm 1971

    Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 1994

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/7/2024 đến ngày 15/7/2024, sau đó bị áp dụng biện pháp ngăn chặn C1 đi khỏi nơi cư trú cho đến nay (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng thời gian từ 20 giờ đến 21 giờ ngày 08/7/2024, Lê Thạc S, Nguyễn Đình C2, Lê Văn L1 lần lượt đi tới nhà Nguyễn Đình C để chơi. Tại đây C, C2, S, L1 cùng rủ nhau đi vào phòng ngủ tầng một nhà C để đánh bạc bằng hình thức đánh bài “Xì tố” thắng thua bằng tiền mặt, mức độ sát phạt nhau mỗi ván từ 20.000 đồng đến 100.000 đồng.

Để thực hiện hành vi đánh bạc, các bị cáo quy ước là sử dụng các quân bài gồm 9, 10, J, Q, K, A trong bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài. Khi bắt đầu chơi sẽ chia cho mỗi người hai quân bài, trong đó lật ngửa một quân bài, quá trình đánh bạc nếu muốn bốc bài thì đặt thêm tiền vào chiếu bạc, nếu người sau muốn bốc bài thì đặt tiền như người trước hoặc cao hơn thì mới được bốc bài, số lá bài bốc tối đa là 05 lá bài, trong đó quy ước cao nhất là tứ quý (gồm 4 quân bài giống nhau), tiếp theo là đồng hoa (05 quân bài liên tiếp đồng chất nhau) thấp nhất là người chơi bỏ bài (không theo bài), trong ván bài nếu người chơi có bài giống nhau thì tính chất từ cao xuống thấp là (Cơ, rô, chuồn, bích), kết thúc ván bài người chơi có lá bài cao nhất trong những người chơi thì ăn tiền trên chiếu bạc, những người còn lại sẽ mất số tiền mà mình đã đặt cược.

Quá trình tham gia đánh bạc, Lê Văn L1 đưa theo số tiền 1.200.000₫ (một triệu hai trăm nghìn đồng) để đánh bạc, sau khi đánh hết số tiền trên thì L1 sử dụng tài khoản ngân hàng B của L1 chuyển đến tài khoản BIDV số 51510550589 của C để lấy số tiền mặt 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) để tiếp tục đánh bạc, khi đánh hết số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) thì L1 lại tiếp tục vay thêm của C số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) để đánh bạc. Quá trình đánh bạc Lê Thạc S vay của C số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) để đánh bạc; Nguyễn Đình C2 vay của C số tiền 3.000.000 đồng để đánh bạc; Nguyễn Đình C sử dụng số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng) để đánh bạc. Các bị cáo đánh bạc đến khoảng 04 giờ ngày 09/4/2024 thì nghỉ và đi về nhà .

Ngày 12/7/2024, Lê Văn L1 nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên đã đến Công an thị xã H, tỉnh Nghệ An để xin tự thú về hành vi phạm tội của mình như trên.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H đã ra Lệnh giữ người, Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Đình C, Lê Thạc S, Nguyễn Đình C2. Quá trình điều tra các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Quá trình điều tra chứng minh tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 10.200.000 đồng, trong đó: Lê Văn L1 sử dụng số tiền 5.200.000 đồng, quá trình đánh bạc thua 600.000 đồng; Lê Thạc S sử dụng số tiền 1.000.000 đồng, quá trình đánh bạc thắng 30.000 đồng; Nguyễn Đình C2 sử dụng số tiền 3.000.000 đồng, quá trình đánh bạc thắng số tiền 200.000 đồng; Nguyễn Đình C sử dụng số tiền 1.000.000 đồng, quá trình đánh bạc thắng số tiền 370.000 đồng).

Tại bản Cáo trạng số 48/CT-VKS-HM, ngày 07 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai đã truy tố các bị cáo Nguyễn Đình C, Lê Văn L1, Lê Thạc S và Nguyễn Đình C2 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên toà hôm nay Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đình C, Lê Văn L1, Lê Thạc S và Nguyễn Đình C2 phạm tội “Đánh bạc”.

Đề nghị áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điều 65; điều 58 của Bộ luật hình sự 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình C từ 12 (Mười hai) tháng đến 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 (Hai mươi tư) tháng đến 30 (Ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (18/11/2024).

Xử phạt: Bị cáo Lê Thạc S từ 07 (B) tháng đến 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 14 (Mười bốn) tháng đến 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (18/11/2024).

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 35; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015.

Phạt tiền Nguyễn Đình C2 22.000.000₫ – 25.000.000đ.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 35; Điểm i, r, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015.

Phạt tiền Lê Văn L1 từ 20.000.000₫ – 22.000.000đ.

Vật chứng vụ án: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M14 5G, màu xanh, Imeil: 354065711018080; Imei2: 355213821018082 đã qua sử dụng.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước Tiền ngân hàng N1 10.200.000 đ (mười triệu hai trăm nghìn đồng). Đây là số tiền dùng vào việc phạm tội mà các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc.

Về án phí: Miễn án phí cho bị cáo Lê Thạc S, các bị cáo khác phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối lỗi không tranh luận gì thêm, các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau.

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đó thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau; phù hợp với biên bản phạm pháp quả tang, vật chứng đã thu được và các tài liệu khác có tại hồ sơ. Có căn cứ kết luận: Vào khoảng thời gian từ 21 giờ ngày 08/7/2024 đến 04 giờ 00 phút ngày 09/7/2024, tại phòng ngủ tầng 01 (một) nhà Nguyễn Đình C. Nguyễn Đình C, Lê Văn L1, Lê Thạc S, Nguyễn Đình C2 cùng nhau tham gia đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài “Xì tố”, đặt cược sát phạt nhau từ 20.000 đồng đến 100.000 đồng. Tổng số tiền chứng minh các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 10.200.000đ (mười triệu hai trăm nghìn đồng).

[3] Quá trình phạm tội, các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng do hám lợi bằng hình thức đánh bạc sát phạt nhau nên vẫn thực hiện.

Hành vi của các bị cáo thực hiện nêu trên có đủ căn cứ kết luận các bị cáo Nguyễn Đình C, Lê Văn L1, Lê Thạc S và Nguyễn Đình C2 phạm tội: “Đánh bạc”, tội phạm và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự như Cáo trạng quy kết là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến đạo đức lối sống và gây mất trật tự trị an trên địa bàn thị xã H, là loại tội phạm làm nảy sinh nhiều loại tội phạm khác, hành vi của các bị cáo gây nên sự bất bình trong xã hội, gây ra sự xáo trộn về đời sống sinh hoạt trong cộng đồng dân cư, gây mất trật tự an ninh chung. Vì vậy cần xử lý nghiêm để giáo dục đối với các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[4] Xét tính chất mức độ hành vi tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Đối với bị cáo Nguyễn Đình C bị cáo là chủ nhà, bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 23/10/2014 bị Công an phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc”. Ngày 06/7/2020 bị Công an thị xã H, tỉnh Nghệ An xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc”. Ngày 22/12/2021 bị Công an xã Q, thị xã H xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc”, bị cáo không lấy đó làm bài học để tu luyện bản thân mà vẫn cố tình vi phạm thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo, đáng ra cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe giáo dục bị cáo. Tuy nhiên cũng xem xét cho bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ sự ăn năn hối cãi, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong cuộc sống bị cáo có nhiều tham gia công tác ủng hộ phòng chống dịch Covid, ủng hộ xây dựng nhà đại đoàn kết cho hộ nghèo, ủng hộ đồng bào phía Bắc do thiệt hai do cơn báo số 03 gây ra được Ủy ban mặt trận tổ quốc xã Q xác nhận, có ông nội, ông bà ngoại được chủ tịch nước tặng Huy chương kháng chiến. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân bị cáo cũng đã lâu, mặc dù cùng hành vi đánh bạc nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự, số tiền đánh bạc không lớn, hiện nay vợ bị cáo là Nguyễn Thị O đang bị truy tố, xét xử ở một vụ án khác, các con của hiện đang con nhỏ việc cách ly bị cáo sẽ làm ảnh hưởng đến cuộc sống cũng như nuôi dạy các con của bị cáo, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Do đó không cần phải cách ly đối với bị cáo, mà cho bị cáo được hưởng án treo. Xem xét mức độ, hành vi, cũng như số tiền của bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc, mức hình phạt cần thấp hơn so với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát cũng đã đủ nghiêm đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung Xét điều kiện hoàn cảnh bị cáo, bố mẹ già cả, vợ bị bại liệt tay trái, không làm được việc gì, mình bị cáo đang còn phải nuôi bố mẹ với vợ con nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với bị cáo Lê Thạc S có nhân thân xấu, ngày 21/6/2015 bị Công an thị xã H, tỉnh Nghệ An xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc”. Tuy nhiên xem xét cho bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có các tình tiết giảm nhẹ đó là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bố mẹ bị cáo được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, số tiền bị cáo đánh bạc không lớn, nhân thân bị cáo thực hiện cũng đã lâu, bị cáo tuổi cũng đã cao. Do đó cũng không cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà mà cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị cáo tuổi đã cao, số tiền đánh bạc không lớn nên mức hình phạt thấp hơn so với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát cũng đã đủ nghiêm đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.

Bị cáo là người cao tuổi, vợ mất, điều kiện khó khăn nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với các bị cáo Nguyễn Đình C2, Lê Văn L1 đều phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có các tình tiết giảm nhẹ đó là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; số tiền các bị cáo đánh bạc không lớn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo C2 có bố được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất, ngoài ra sau cơn bão số 3 vừa qua bị cáo đã ủng hộ đồng bào các tỉnh phía Bắc, cũng như trong cuộc sống bị cáo cũng đã ủng hộ cho các hộ nghèo được Hội phụ nữ xã Q xác nhận, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo L1 tự thú đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Các bị cáo lần đầu phạm tội số tiền đánh bạc không lớn nên chỉ cần áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo mức phạt tiền như vị đại diện Viện kiểm sát cũng đủ nghiêm đồng thời cũng thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với các bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo Nguyễn Đình C2, Lê Văn L1 phải chịu hình phạt chính là hình phạt tiền nên không cần thiết phải áp dụng thêm hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[5] Vật chứng vụ án:

Đối với số tiền 10.200.000 đ (mười triệu hai trăm nghìn đồng) đây là số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M14 5G, màu xanh, Imei1: 354065711018080; Imei2: 355213821018082 đã qua sử dụng. Thu giữ của Nguyễn Đình C đây là công cụ bị cáo Nguyễn Đình C sử dụng để chuyển tiền, rút tiền để sử dụng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

[6] Về án phí: Bị cáo Lê Thạc S là người cao tuổi đã có đơn xin miễn án phí nên miễn án phí cho bị cáo S, các bị cáo khác phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

[7] Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điều 65; điều 58 của Bộ luật hình sự 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình C 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (18/11/2024). Về tội “Đánh bạc”.

Không xử phạt bổ sung đối với bị cáo.

Xử phạt bị cáo Lê Thạc S 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (18/11/2024). Về tội “Đánh bạc”.

Không xử phạt bổ sung đối với bị cáo.

Giao các bị cáo Nguyễn Đình C, Lê Thạc S cho UBND xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Gia đình bị cáo Nguyễn Đình C, Lê Thạc S có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 93 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 35; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015.

Phạt tiền Nguyễn Đình C2 25.000.000₫ Hai mươi lăm triệu đồng).

Về tội “Đánh bạc”

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 35; Điểm i, s, r khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015.

Phạt tiền Lê Văn L1 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng). Về tội “Đánh bạc”

Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M14 5G, màu xanh, Imei1: 354065711018080; Imei2: 355213821018082 đã qua sử dụng. Thu giữ của Nguyễn Đình C.

Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thị xã H và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoàng Mai ngày 18/7/2024.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc là 10.200.000 đ (mười triệu hai trăm nghìn đồng). Theo tài khoản tạm giữ số: 3949.0.9068613.00000 của Công an thị xã H tại kho bạc Nhà nước H3 ngày 13/6/2024.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban T2; Buộc các bị cáo Nguyễn Đình C, Lê Văn L1 và Nguyễn Đình C2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lê Thạc S.

Các bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhân:

  • - Các bị cáo;
  • - VKSND thị xã Hoàng Mai;
  • - Chi cục THADS thị xã Hoàng Mai;
  • - Sở Tư pháp;
  • - CA thị xã Hoàng Mai;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Lưu VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Hữu Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 18/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 60/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Đình C và đồng phạm phạm tội đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger