Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM ĐƯỜNG

TỈNH LAI CHÂU

Bản án số: 60/2024/HS-ST

Ngày 15 tháng 10 năm 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Triệu Trung Tá.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tẩn A Nao, ông Vàng Văn Ngọc

Thư ký phiên tòa: Ông Sùng A Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Đường tỉnh Lai Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Tô Đỗ Yến Ly - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 62/2024/TLST - HS ngày 28 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Giàng A K, tên gọi khác: Không có tên gọi khác, sinh ngày 23/6/1982; Nơi sinh: Xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Bản L, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Giáy; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Giàng A K1, đã chết và bà Lò Thị M, sinh năm 1946; Bị cáo có vợ là Vàng Thị T, sinh năm 1987 và 03 con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Lai Châu từ ngày 15/4/2024 đến nay có mặt tại phiên tòa.

* Những người làm chứng:

Anh Trần A T1, Trần Văn S và Vàng Văn S1. Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 13/4/2024, bị cáo Giàng A K đi lấy gói Heroine đã mua trước đó của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết với giá 800.000 đồng và cất giấu ở gốc chè cánh nhà bị cáo khoảng 01 km. Lấy gói Heroine cất giấu, bị cáo lấy một ít Heroine cho vào mảnh nilon màu hồng gói lại, dùng bật lửa đốt dính một đầu, số Heroine còn lại Kiểu vẫn cất giấu ở vị trí ban đầu. K cầm gói Heroine vừa chia đi về nhà, trên đường đi Kiểu gặp Trần A T1, sinh năm 1987, trú tại bản Lở Thàng 1, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu gặp K, T1 hỏi mua H và đưa cho K số tiền 300.000 đồng, cầm tiền T1 đưa, K cất vào trong ví mang theo rồi đưa cho T1 gói H1 đang cầm trên tay phải, bán H xong K đi về nhà còn T1 đi đâu K không biết.

Khoảng 09 giờ ngày 14/4/2024 Trần Văn S, sinh năm 1986, trú tại bản Lở Thàng 1, xã T, huyện T gọi điện thoại cho K hỏi mua H2, K đồng ý bán sau đó K đi bộ từ nhà lên khu vực đồi chè mà K đã cất giấu H, đến nơi K lấy gói Heroine đang cất giấu mở ra, xé 02 mảnh nilon màu hồng, rồi lấy ra ít Heroine cho vào hai mảnh nilon dùng bật lửa đốt dính lại (gồm 01 gói Heroine to K sẽ bán với giá 200.000 đồng; 01 gói Heroine nhỏ với giá 100.000 đồng), số Heroine còn lại K dùng mảnh nilon màu hồng gói lại như cũ, cất giấu trong gốc chè. Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày Kiểu cất hai gói Heroine vừa chia vào túi áo bên trái đang mặc trên người để chuẩn bị đi về nhà thì gặp Vàng Văn S1, sinh năm: 1990 trú cùng bản với K đến hỏi mua Heroine, K bán cho S1 01 gói Heroine nhỏ hơn với giá 100.000 đồng, mua được Heroine Suông đi đâu K không biết. Đến khoảng 09 giờ 45 phút cùng ngày, khi K đang hái rau má tại đồi chè thì có Trần Văn S đến và đưa cho K số tiền 200.000 đồng để mua H, K cầm tiền và cất vào trong ví rồi đưa cho S 01 gói Heroine. Sau khi bán Heroine cho S, S đi đâu Kiểu không rõ, còn K đi về nhà.

Đến khoảng 10 giờ ngày 15/4/2024 K đi từ nhà lên khu vực đồi chè chỗ cất giấu gói Heroine còn lại, K cầm gói Heroine cất vào túi áo ngực bên trái đang mặc trên người đi vào bụi tre gần đó để chia nhỏ gói Heroine mục đích để trả công cho những người nghiện làm thuê cho gia đình. Tại đây K gặp Vàng Văn T2, sinh năm 1967, là người trú cùng bản, nên K không chia nhỏ gói Heroine như dự định ban đầu mà ngồi nói chuyện với T2 thì có tổ công tác Công an xã T đến kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Vật chứng thu giữ của K là 01 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu hồng, xoắn một đầu. Giàng A K tự giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 12. Ngày 20/4/2024 cơ quan điều tra tạm giữ 01 ví giả da màu đen của Giàng A K có số tiền 2.550.000 đồng (trong đó có 600.000 đồng do K bán Heroine mà có);

Kết luận giám định số 21/KLGĐ ngày 15/4/2024 của giám định viên theo vụ việc, bản Kết luận giám định số 438/KL-KTHS ngày 17/4/2024 và bản Kết luận giám định số 474/KL-KTHS ngày 25/4/2024 của Phòng K2 - Công an tỉnh L đã khẳng đinh: 01 mẫu chất bột, màu trắng thu giữ của Giàng A K là chất ma túy, loại: Heroine có khối lượng 2,09 gam. Số tiền 2.550.000 đồng tiền Việt Nam giám định là tiền thật.

Bản cáo trạng số: 52/CT-VKS ngày 27 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Giàng A K về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu đã truy tố, không oan, không sai.

Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Giàng A K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Giàng A K từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.

Về vật chứng: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy: 1,91 gam Heroine còn lại sau khi đã trích 0,18 gam Heroine đi giám định không hoàn lại; mảnh nilon màu hồng và phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 ví giả da màu đen đã qua sử dụng. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 600.000 đồng do phạm tội mà có của bị cáo. Tịch thu bán sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 12, màu xanh than sau lưng điện thoại có 02 Camera hình tròn, có số IMEL1: 8637800644765582, IMEL2: 863780064765590, SN: 46818/63Q407383; 200 128GB. Điện thoại có gắn 02 thẻ sim (Sim thứ nhất có số thuê bao là 0333.314.980 trên sim có dòng chữ 4G Viettel, 89840, 48000, 92673, 2131; Sim thứ hai có số thuê bao là 0878.121.220 trên sim có dòng chữ 898408100 itel 08760371xxx) điện thoại cũ đã qua sử dụng. Trả lại cho bị cáo số tiền 1.950.000 đồng.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, lao động tự do thu nhập không ổn định sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn nên đề nghị không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Về án phí: Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 miễn án phí cho bị cáo theo quy định.

Bị cáo không tranh luận đối đáp với đại diện Viện kiểm sát, ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định tại Điều 42 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các tài liệu, chứng cứ được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định. Nên các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở xác định bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như sau: Sau khi mua được 800.000 đồng Heroine của một người không quen biết, bị cáo Giàng A K trong các ngày từ 13/4/2024 đến 14/4/2024 đã bán trái phép 03 lần cho các đống tượng. Cụ thể:

Lần 1: Khoảng 09 giờ ngày 13/4/2024, tại khu vực đồi chè thuộc bản Lở Thàng 2, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu, Giàng A K bán trái phép 01 gói Heroine cho Trần A T1 lấy số tiền 300.000 đồng.

Lần 2: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 14/4/2024, tại khu vực đồi chè thuộc bản Lở Thàng 2, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu, Giàng A K tiếp tục thực hiện hành vi bán trái phép 01 gói Heroine cho Vàng Văn S1 với giá 100.000 đồng.

Lần 3: Khoảng 09 giờ 45 phút cùng ngày 14/4/2024 K tiếp tục bán cho Trần Văn S 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng.

Khoảng 11 giờ ngày 15/4/2024 bị cáo cất giấu 01 gói Heroine có khối lượng 2,09 gam mục đích để chia nhỏ, trả công cho người làm thuê và bán lẻ kiếm lời thì bị bắt giữ cùng tang vật.

Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, phải chịu trách nhiệm hình sự do mình đã gây ra. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ.

Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi của mình; Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội gây mất trật tự trị an, đặc biệt tại địa phương bị cáo sinh sống. Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận.

[3] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, lao động tự do thu nhập không ổn định sống ở vùng đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

[4] Về xử lý vật chứng:

Đối với 1,91 gam Heroine còn lại sau khi đã trích 0,18 gam Heroine đi giám định không hoàn lại; mảnh nilon màu hồng và phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 ví giả da màu đen đã qua sử dụng là vật cấm lưu hành, vật không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 600.000 đồng do phạm tội mà có của bị cáo. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 12, màu xanh than sau lưng điện thoại có 02 Camera hình tròn, có số IMEL1: 8637800644765582, IMEL2: 863780064765590, SN: 46818/63Q407383; 200 128GB. Điện thoại có gắn 02 thẻ sim (Sim thứ nhất có số thuê bao là 0333.314.980 trên sim có dòng chữ 4G Viettel, 89840, 48000, 92673, 2131; Sim thứ hai có số thuê bao là 0878.121.220 trên sim có dòng chữ 898408100 itel 08760371xxx) thu giữ của bị cáo, đây là phương tiện phạm tội nên tịch thu bán sung quỹ nhà nước.

Trả lại cho bị cáo số tiền 1.950.000 đồng do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

[5] Về án phí: Bị cáo tại phiên tòa xin được miễn án phí do sinh sống ở xã đặc biệt khó khăn về kinh tế - xã hội. Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c Khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14

  1. Tuyên bố bị cáo Giàng A K phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”
  2. Xử phạt bị cáo Giàng A K 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/4/2024.
  3. Xử lý vật chứng:
    • Tịch thu, tiêu hủy: 1,91 gam Heroine còn lại sau giám định không hoàn lại; mảnh nilon màu hồng và phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 ví giả da màu đen đã qua sử dụng.
    • Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 600.000 đồng do phạm tội mà có của bị cáo. Tịch thu bán sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 12, màu xanh than sau lưng điện thoại có 02 Camera hình tròn, có số IMEL1: 8637800644765582, IMEL2: 863780064765590, SN: 46818/63Q407383; 200 128GB. Điện thoại có gắn 02 thẻ sim (Sim thứ nhất có số thuê bao là 0333.314.980 trên sim có dòng chữ 4G Viettel, 89840, 48000, 92673, 2131; Sim thứ hai có số thuê bao là 0878.121.220 trên sim có dòng chữ 898408100 itel 08760371xxx)
    • Trả lại cho bị cáo số tiền 1.950.000 đồng do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
  4. Án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND huyện Tam Đường;
  • - CQCSĐTCA huyện Tam Đường;
  • - CQTHAHS CA H.Tam Đường;
  • - CCTHADS huyện Tam Đường;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Triệu Trung Tá

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 15/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 60/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: mua bán ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger