|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 60/2024/HS-ST Ngày 24-9-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Ly
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phan Tấn Lãm
Ông Nguyễn Văn Cường
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Kim Đức – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Quỳnh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 51/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Điền Vân A, sinh ngày 30/8/2006, tại Bình Phước; Nơi cư trú: Thôn H, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 1/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1980 và bà Điền Thị Ngọc O, sinh năm 1982, bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 16/6/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng về hành vi “Trộm cắp tài sản” trong thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 23/QĐ-TA. Ngày 01/12/2023 chấp hành xong Quyết định (chưa xóa tiền sự); bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/8/2024 cho đến nay; “có mặt” tại phiên toà.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Điền Vân A: Ông Phạm Văn H – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B “có mặt”
Bị hại: Ông Nguyễn Thành L, sinh năm 1983 và bà Chu Thị T1, sinh năm 1985, nơi cư trú: Thôn H, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước “có mặt”
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Huy H1, sinh năm 2009, nơi cư trú: Thôn H, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước “có mặt”
Người giám hộ của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Ngọc L1, sinh năm 1987, nơi cư trú: Thôn H, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước “có mặt"
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 08/8/2024 Nguyễn Điền Vân A, sinh ngày 30/8/2006 mượn xe mô tô của Nguyễn Huy H2, sinh năm 2009 để đi mua đồ thì H2 đồng ý. Sau khi mượn được xe, A điều khiển xe đến khu vực ruộng lúa gần nhà ông Nguyễn Thành L ở thôn H, xã P, huyện B để gỡ bẫy chim. Sau khi gỡ bẫy chim xong thì A phát hiện nhà ông L không có cánh cửa, xung quanh chỉ quây bằng lưới sắt và không có người ở nhà trông coi, lúc này A nảy sinh ý định vào nhà lấy trộm tài sản. Sau đó, A đi vào nhà ông L lục lọi để tìm tài sản có giá trị thì phát hiện trong tủ đựng quần áo có 1 xấp tiền trị giá 42.100.000 đồng, A lấy hết số tiền này rồi mang về nhà cất giấu vào trong chiếc loa màu đen nhãn hiệu Hamersh, sau đó để chiếc loa ở hành lang phòng ngủ. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày A đem xe mô tô trả lại cho H2. Đối với ông Nguyễn Thành L sau khi phát hiện số tiền bị mất trộm nên đã đến Công an xã P trình báo sự việc trên. Đến 17 giờ 15 phút cùng ngày, Nguyễn Điền Vân A đến Công an xã P đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Ngày 09/8/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện B khám nghiệm hiện trường và thu giữ số tiền 42.100.000 đồng trong chiếc loa màu đen nhãn hiệu Hamersh (trong đó, 37 tờ tiền VNĐ mệnh giá 500.000 đồng; 36 tờ tiền VNĐ mệnh giá 100.000 đồng; 08 tờ tiền VNĐ mệnh giá 50.000 đồng; 98 tờ tiền VNĐ mệnh giá 200.000 đồng)
Bản cáo trạng số 53/CT-VKS ngày 05/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Nguyễn Điền Vân A về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo A từ 15 tháng đến 18 tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Thành L và bà Chu Thị T1 không yêu cầu, nên không xem xét.
- Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 42.100.000 đồng, đây là số tiền do Nguyễn Điền Vân A trộm cắp của ông Nguyễn Thành L mà có. Do đó, ngày 21/8/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã trả lại cho anh L, do đó khong đề cập xử lý.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Điền Vân A đã khai nhận bản thân bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là 42.100.000 đồng của bị hại ông Nguyễn Thành L và bà Chu Thị T1 theo đúng nội dung Cáo trạng đã truy tố. Nay bị cáo đã nhận biết hành vi của mình là trái pháp luật, xin Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo một mức án thấp để bị cáo có cơ hội sửa sai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
3
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ và tội danh đối với hành vi của bị cáo: Xét thấy các chứng cứ, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa như: Biên bản khám nghiệm hiện trường; lời khai của bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan phù hợp về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, vật chứng của vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Do muốn có tiền để tiêu xài cá nhân, nên ngày 8/8/2024 Nguyễn Điền Vân A đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt số tiền 42.100.000 đồng của ông Nguyễn Thành L ở thôn H, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Đối chiếu hành vi nêu trên của bị cáo so với những quy định của pháp luật thì hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, về tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, do mong muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo đã cố ý thực hiện việc phạm tội.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm nên cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra, nhằm giáo dục bị cáo có ý thức tôn trọng pháp luật và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên khi quyết định mức hình phạt cho bị cáo cần xem xét quá trình điều tra truy tố xét xử bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo; sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 15 tháng đến 18 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
4
Đối với người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của mức hình phạt Viện kiểm sát đề xuất là không phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, vì bản thân bị cáo đã có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo không biết ăn năn hối cải lại tiếp tục phạm tội trộm cắp tài sản, thể hiện thái độ không tôn trọng pháp luật. Do đó đề nghị của người bào chữa không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Xét về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 triệu đồng”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có công việc, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: bị hại ông Nguyễn Thành L và bà Chu Thị T1 không yêu cầu Nguyễn Điền Vân A phải bồi thường nên không xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với số tiền 42.100.000 đồng, đây là số tiền do Nguyễn Điền Vân A trộm cắp của ông Nguyễn Thành L mà có. Do đó, ngày 21/8/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã trả lại cho anh L là đúng quy định pháp luật, nên Hội đồng xét xử không xử lý lại.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38, 101 Bộ luật hình sự năm 2015.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ Điều 106, Điều 260, Điều 329, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Điền Vân A phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Điền Vân A 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 08/8/2024.
Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Điền Vân A để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Điền Vân A phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5
4. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hải Ly |
Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 60/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: trộm cắp
