|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 60/2024/HS-ST
Ngày: 19/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Loan
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Thu Trà và bà Nịnh Thị Tám
Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tốn - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 55/2024/HSST ngày 14/8/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 08 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lưu Đình C, tên gọi khác: không; sinh năm 1979 tại tỉnh Thái Nguyên; Nơi thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn 12/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ Đảng, đoàn thể: Không; Con ông: Lưu Đình T; con bà: Hoàng Thị N (đều đã chết); Vợ, con: Chưa có; Tiền sự: Không;
Tiền án: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 85/2022/HS-ST ngày 21/9/2022 bị Toà án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/01/2024.
Nhân thân:
- Tại bản án hình sự sơ thẩm số 01/2003/HS-ST ngày 14/01/2003 bị Toà án nhân dân TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 24 tháng tù về tội Cướp giật tài sản. Chấp hành xong án phí ngày 25/05/2005.
- Tại bản án hình sự sơ thẩm số 84/2009/HS-ST ngày 15/7/2009 bị Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xử phạt 24 tháng tù về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2010. Chấp hành xong án phí ngày 23/7/2010.
Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 53 ngày 17/4/2000 bị Công an huyện P xử phạt vi phạm hành chính 200.000 đồng về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, đã nộp phạt xong ngày 17/04/2000.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).
Người chứng kiến: Ông Bạch Ngọc T1, sinh năm 1958; Nơi thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 30 phút ngày 09/05/2024, tại tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện P, tổ công tác Công an thị trấn Đ, huyện P làm nhiệm vụ đã phát hiện bắt quả tang Lưu Đình C, đang có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thu giữ tại túi quần bên phải của C 01 gói chất bột màu trắng được gói bên ngoài bằng lớp giấy bạc màu vàng, được niêm phong trong phong bì ký hiệu A, C khai là ma túy Heroine tàng trữ để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng theo quy định. Ngay sau đó, Công an thị trấn Đ, huyện P đã bàn giao hồ sơ, đối tượng, vật chứng cho Cơ quan CSĐT Công an huyện P để điều tra theo thẩm quyền. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của C không thu giữ gì liên quan đến ma túy.
Cùng ngày, tại Phòng K Công an tỉnh T đã tiến hành cân xác định khối lượng của 01 gói chất bột mầu trắng nghi ma tuý loại Heroine thu giữ của C được 0,598 gam, niêm phong toàn bộ trong bì ký hiệu A1 gửi giám định. Tại bản Kết luận giám định số 608/KL-KTHS ngày 17/05/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Số chất bột màu trắng trong phong bì kí hiệu A1 là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,598 gam.
Tại cơ quan điều tra Lưu Đình C khai nhận: Khoảng 11 giờ ngày 09/05/2024 sau khi làm xong thủ tục ra viện Bệnh viện P, C ra điểm bắt xe buýt thuộc phường T, thành phố T để đi về nhà thì nảy sinh việc mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Tại đây, C gặp và mua được 01 gói ma túy loại Heroine của người không quen biết với giá 500.000 đồng. Mua được ma túy, C cất giấu tại túi quần bên phải đi xe buýt về nhà, khi đến điểm xe buýt gần nhà thuộc tổ dân phố C, thị trấn Đ, xuống xe thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ ma túy.
Vật chứng của vụ án gồm: 01 bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong có 0,571 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1 hoàn trả sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu A2, bên trong có 01 bì niêm phong ký hiệu A và vỏ giấy gói. Hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lương theo quy định.
Tại bản cáo trạng số 50/CT-VKSPL ngày 07/8/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Lưu Đình C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bản thân. Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lưu Đình C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lưu Đình C từ 36 đến 42 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy các bì niêm phong ký hiệu A1, A2 và buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng thể hiện ăn năn hối cải và xin được xem xét mức án phù hợp nhất để sớm trở về là người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lưu Đình C không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng.
- Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, vật chứng đã thu được, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận trưng cầu giám định chất ma túy và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ xác định: Hồi 11 giờ 30 phút ngày 09/5/2024, tại xóm T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên Lưu Đình C có hành vi tàng trữ trái phép 0,598 gam ma tuý loại Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Hành vi của bị cáo C đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
- Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định như sau: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: .....c, H, ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Xét thấy Cáo trạng số 50/CT-VKSPL ngày 07/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Lưu Đình C về tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật. - Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Xét tính chất hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Bị cáo tự mình thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy trên người, mục đích sử dụng cho bản thân, không có đồng phạm khác.
- Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo có nhân thân xấu, đã nghiện ma tuý nhiều năm, nhiều lần bị xét xử và bị xử phạt tù về nhiều tội danh khác nhau. Sau khi ra tù một thời gian ngắn bị cáo lại tiếp tục phạm tội. Hiện bị cáo sống một mình, gia đình kinh tế trung bình, không thuộc trường hợp hộ nghèo hoặc cận nghèo. - Về hình phạt: Sau khi đánh giá tính chất, mức độ tội phạm do bị cáo thực hiện, sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương đề nghị áp dụng đối với bị cáo trong phần luận tội có phần nặng so với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án này. Theo kết quả xác minh tại địa phương cho thấy bị cáo C là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, không có tài sản, không có thu nhập ổn định. Bị cáo mua ma túy mục đích sử dụng cho bản thân mình, không có mục đích vụ lợi, đại diện Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
- Về xử lý vật chứng: Xét thấy các vật chứng gồm: 02 phong bì ký hiệu A1 bên ngoài ghi, hoàn trả 0,571 gam mẫu A1 và vỏ bao gói còn lại sau giám định; và một phong bì ký hiệu A2 bên ngoài ghi, bên trong có 01 vỏ bì ký hiệu A1 và vỏ giấy gói hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lương xét thấy cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về nguồn gốc số ma túy heroine bị thu giữ, Lưu Đình C khai mua của một người không rõ tên tuổi. Do đó không có cơ sở để điều tra làm rõ. - Án phí và quyền kháng cáo: Trong vụ án này bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lưu Đình C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt Lưu Đình C 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định: Tịch thu, tiêu hủy các vật chứng gồm:
01 phong bì ký hiệu A1 bên ngoài ghi, hoàn trả 0,571 gam mẫu A1 và vỏ bao gói còn lại sau giám định; và một phong bì ký hiệu A2 bên ngoài ghi, bên trong có 01 vỏ bì ký hiệu A1 và vỏ giấy gói.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 54 ngày 14/8/2024 giữa Công an huyện P với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên).
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326 của UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lưu Đình C phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.
Án xét xử sơ thẩm công khai. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thanh Loan |
Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 60/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ ma tuý
