Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUY PHƯỚC

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2024/HS-ST

Ngày 22-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Tú.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Minh Thâm
  2. Bà Phạm Thị Tuyết Mai

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Linh là Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Ngô Hồng Tuân – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 56/2023/TLST-HS, ngày 17 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 148/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Võ Văn H; tên gọi khác: Ty mập, giới tính: N1, sinh năm: 1998, tại huyện V, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Tổ A, khu phố B, phường B, thành phố Q, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 6/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Con ông: Võ Đình T, sinh năm: 1971; Con bà: Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1973; vợ, con: chưa có; tiền án: Ngày 20/9/2021, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xử phạt 03 (ba) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự, chấp hành xong hình phạt ngày 02/02/2022; ngày 30/12/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 64/2022/HS-ST ngày 30-12-2022, chưa chấp hành hình phạt; tiền sự: không; về nhân thân: Ngày 22/5/2014, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường B, thành phố Q, tỉnh Bình Định ra Quyết định “Áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã” với thời hạn 03 tháng, kể từ ngày 23/5/2014 đến ngày 23/8/2014 về hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/4/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T; có mặt tại phiên tòa.
  2. Họ và tên: Trần Đức H2, tên gọi khác: Cu Lu; giới tính: N1, sinh năm: 1993, tại: tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Tổ E, khu phố B, phường B, thành phố Q, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 11/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông: Trần Văn V, sinh năm: 1962; con bà: Lại Thị H3, sinh năm: 1960; vợ: Phan Tuyết N, sinh năm: 1990 (Đã ly hôn); chung sống như vợ chồng với Nguyễn Lữ Lệ D – sinh năm: 1990; con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 29/11/2012, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xử phạt 04 (bốn) năm tù và 5.000.000 đồng (Hình phạt bổ sung), về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999, chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/01/2016. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/4/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T; có mặt tại phiên tòa.
  3. Họ và tên: Võ Văn N1, tên gọi khác: không, giới tính: N1, sinh năm: 1994 tại huyện P, tỉnh Bình Định; nơi đăng kí thường trú: Đường N, tổ dân phố C, thị trấn M, huyện K, tỉnh Kon Tum; chỗ ở hiện nay: Tổ G, khu phố G, phường B, thành phố Q, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông: Võ Văn T1, sinh năm: 1954; Con bà: Cao Thị P, sinh năm: 1957; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/6/2024, Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

  • Anh Nguyễn Đức T2, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn Q, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
  • Chị Trần Thị Kim N2, sinh năm 1999; nơi cư trú: Thôn Q, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Anh Cao Hoài B, sinh năm 1997; nơi cư trú: Tổ G, khu phố G, phường B, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 00 phút, ngày 03/4/2024, Võ Văn H - sinh năm 1998, trú tại khu phố B, phường B, thành phố Q, tỉnh Bình Định rủ Trần Đức H2 - sinh năm 1993 ở cùng khu phố đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài thì H2 đồng ý. Sau đó, H điều khiển xe mô tô gắn biển số 60B2-224.67 của H, mang theo 01 kìm cắt cộng lực chở H2 đi dọc tuyến đường Q hướng từ phường B, thành phố Q đi huyện T, tỉnh Bình Định để tìm nhà dân sơ hở trộm cắp tài sản. Khi đến cửa hàng M thuộc thôn Q, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định, H điều khiển xe rẽ xuống đường bê tông ở cạnh cửa hàng mâm lốp T. Khi đi qua nhà của ông Nguyễn Đức T2 - sinh năm 1991, trú tại thôn Q, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định thì thấy trong sân nhà ông T2 có để nhiều xe điện đồ chơi nên H dừng xe lại trước nhà ông T2. Lúc này, H dùng kìm cắt cộng lực cắt lưới B40 rồi đứng bên ngoài cảnh giới, còn H2 đi vào trong sân nhà ông T2 lấy trộm 01 (một) xe điện đồ chơi màu vàng và 01 (một) xe điện đồ chơi màu xanh đem ra ngoài nơi H đang đứng. Sau đó, H chở H2 mang 02 (hai) chiếc xe điện đồ chơi trộm cắp được đến giấu tại một bụi cây cách nhà của ông T2 khoảng 100m. Sau khi giấu 02 (hai) chiếc xe điện đồ chơi trộm cắp được, H tiếp tục chở H2 quay lại nhà ông T2 để trộm cắp tài sản. Khi quay lại nhà ông T2, H2 vào trong sân nhà tiếp tục lấy trộm 01 (một) xe điện đồ chơi màu hồng mang ra ngoài, rồi H chở H2 mang chiếc xe điện đồ chơi màu hồng đến cất giấu tại một bụi cây gần cầu ông Đ. Sau đó, H điều khiển xe mô tô chở H2 mang chiếc xe điện đồ chơi màu hồng về cất giấu tại nơi ở của H, rồi H2 điều khiển thêm chiếc xe mô tô gắn biển số 77L1-840.10 đi cùng H đến điểm cất giấu chiếc xe điện đồ chơi màu vàng và xanh để chở 02 (hai) chiếc xe về nhà của H. Trên đường đi, H rủ H2 tiếp tục quay lại nhà ông T2 để trộm cắp tài sản thì H2 đồng ý. Khi đến nhà ông T2, H2 đứng ở bên ngoài cảnh giới, còn H đẩy cửa chính đi vào bên trong nhà ông T2, rồi đi vào phòng ngủ của vợ chồng ông T2 lấy trộm 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus của ông T2 và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 của vợ ông T2 là bà Trần Thị Kim N2 - sinh năm 1999, trú tại khu phố E, phường T, thành phố Q (Nơi ở hiện tại: thôn Q, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định) cất giấu vào túi quần rồi đi ra khỏi nhà ông T2. Sau đó, H và H2 đi đến điểm cất giấu 02 chiếc xe điện đồ chơi và mang toàn bộ số tài sản trộm cắp được tại nhà ông T2 về cất giấu tại nhà của H, rồi H2 gọi điện thoại cho Võ Văn N1 - sinh năm 1994, trú tại đường N, tổ dân phố C, thị trấn M, huyện K, tỉnh Kon Tum (Nơi ở hiện tại: khu phố G, phường B, thành phố Q) hỏi N1 “Có mua xe điện đồ chơi không?” thì N1 nói H2 mang xe đến cho N1 xem. Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 04/4/2024, khi đến nơi ở của N1 thì H2 đi đến gặp N1. Tại đây, N1 hỏi H2 “Xe lấy ở đâu?” thì H2 trả lời “Xe lấy ở cầu B”. N1 hỏi H2 “Bán giá bao nhiêu?” thì lúc này H mang chiếc xe điện vào, H2 hỏi H là bán bao nhiêu, H trả lời “Bán 1.500.000 đồng”. N1 đồng ý mua chiếc xe điện đồ chơi màu vàng với giá 1.500.000 đồng và đưa trước cho H số tiền 600.000 đồng. Sau khi nhận tiền, H và H2 để chiếc xe điện đồ chơi màu vàng tại nơi ở của N1, rồi cả 02 cùng về lại nhà của H. Số tiền 600.000 đồng có được từ việc bán chiếc xe điện đồ chơi cho N1, H chia cho H2 300.000 đồng, cả hai đã tiêu xài hết số tiền nói trên. Đối với các tài sản còn lại đã trộm cắp được tại nhà ông T2, H cất giấu chiếc xe điện đồ chơi màu xanh, chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus và chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 tại nhà của mình. Riêng chiếc xe điện đồ chơi màu hồng được H2 mang đi cất giấu tại 01 con đường hẻm gần nhà của H. Đến ngày 04/4/2024, biết được tin Cơ quan Công an đã phát hiện ra hành vi trộm cắp tài sản của H và H2 nên H2 mang chiếc xe điện đồ chơi màu hồng đến đặt trước cổng nhà của H.

Qua điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tạm giữ của Võ Văn H 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu xanh, dung lượng 64GB, số máy là MHCW3LL/A, số sêri là DX3DN2VJN72P, số IMEI là 356872110709112, số IMEI2 là 356872110664903; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus màu đen, dung lượng 64GB, số máy là MQ8D2LL/A, số sêri là F18VKFMMJCLY, số IMEI là 356714087601684, số MEID là 35671408760168; 01 (một) xe đồ chơi điện màu xanh, kiểu dáng xe cào cào, được gắn 03 bình ắc quy, mỗi bình loại 12V; 01 (một) xe mô tô gắn biển số 60B2-224.67, màu sơn Đen, loại xe số, kiểu dáng giống xe Sirius, vị trí nơi đóng số khung, số máy bị đục không xác định được số khung, số máy và 01 (một) kìm cộng lực dài 43cm, phần cán cầm tay được bọc nhựa màu xanh, tại mũi kìm có dòng chữ U.S.A; tạm giữ của Trần Đức H2 01 (một) xe đồ chơi điện màu hồng, kiểu dáng xe Chaly, được gắn 03 bình ắc quy, mỗi bình loại 12V; tạm giữ của Võ Văn N1 01 (một) xe đồ chơi điện màu Vàng, kiểu dáng xe cào cào (tình trạng xe không có gắn bình ắc quy) và 03 (ba) bình ắc quy cùng loại, mỗi bình loại 12V; tạm giữ của ông Trần Văn V – sinh năm 1962, trú tại khu phố B, phường B, thành phố Q, tỉnh Bình Định (cha ruột của Trần Đức H2) 01 (một) chiếc xe mô tô biển số đăng ký 77L1-840.10, nhãn hiệu Yamaha, loại Jupiter, màu sơn Đỏ Đen, số máy là 5B96032678, số khung là RLCJ5B9608Y032678 (xe của Trần Đức H2).

Theo Bản kết luận định giá tài sản số 28/KL-HĐĐGTS ngày 06 tháng 4 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận thì tại thời điểm bị xâm phạm chiếc điện thoại di động hiệu IPhone 11 màu xanh, dung lượng 64GB, số máy: MHCW3LL/A, số sê ri: DX3DN2VJN72P, IMEI: 356872110709112, IMEI2: 356872110664903, được mua và sử dụng từ tháng 1/2021 trị giá 5.500.000 đồng (Năm triệu năm trăm nghìn đồng); chiếc điện thoại di động hiệu IPhone 8 Plus màu đen, dung lượng 64GB, số máy: MQ8D2LL/A, số sêri: F18VKFMMJCLY, IMEI: 356714087601684, MEID: 35671408760168, được mua và sử dụng từ tháng 6/2021 trị giá 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng); chiếc xe đồ chơi điện màu xanh, kiểu dáng xe cào cào, được gắn 03 bình ắc quy loại 12V, được mua và sử dụng từ tháng 8/2023 trị giá 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng); chiếc xe đồ chơi điện màu vàng, kiểu dáng xe cào cào, được gắn 03 bình ắc quy loại 12V, được mua và sử dụng từ tháng 8/2023 trị giá 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng) và chiếc xe đồ chơi điện màu hồng, kiểu dáng xe giống xe Chaly, được gắn 03 bình ắc quy loại 12V, được mua và sử dụng từ tháng 8/2023 trị giá 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng). Tổng cộng 19.000.000 đồng (Mười chín triệu đồng).

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã xử lý vật chứng trả lại cho ông Nguyễn Đức T2 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus màu đen, 01 (một) xe đồ chơi điện màu xanh, 01 (một) xe đồ chơi điện màu hồng, 01 (một) xe đồ chơi điện màu vàng và 03 (ba) bình ắc quy; trả lại cho bà Trần Thị Kim N2 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu xanh.

Về dân sự: Ông Nguyễn Đức T2 và bà Trần Thị Kim N2 không yêu cầu thiệt hại.

Bản cáo trạng số 54/CT-VKS ngày 10-7-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định truy tố các bị cáo Võ Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Trần Đức H2 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và Võ Văn N1 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa:

Các bị cáo Võ Văn H, Trần Đức H2, Võ Văn N1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo như Cáo trạng đã nêu và các chứng cứ mà cơ quan cảnh sát điều tra đã thu thập. Các bị cáo xin Tòa xử phạt nhẹ.

Trong phần luận tội, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Võ Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự; bị cáo Trần Đức H2 phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự; bị cáo Võ Văn N1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật hình sự.

  • Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Võ Văn H từ 30 đến 36 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” của Bản án số 64/2022/HS-ST ngày 30-12-2022 của Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Trần Đức H2 từ 12 đến 15 tháng tù.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Võ Văn N1 từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.
  • Về trách nhiệm dân sự: Không yêu cầu nên không xem xét.
  • Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) cây kìm cộng lực đang thu giữ; là vật chứng vụ án không còn giá trị kinh tế.

Tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước: 02 xe mô tô đang thu giữ, không xác định được chủ sở hữu của xe.

Trong lời nói sau cùng, các bị cáo Võ Văn H; Trần Đức H2; Võ Văn N1 nhận thức được hành vi của các bị cáo là sai, các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố bảo đảm tính hợp pháp về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Các bị cáo Võ Văn H; Trần Đức H2; Võ Văn N1 có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa thừa nhận toàn bộ sự việc phạm tội giống như lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

Từ đó có đủ cơ sở khẳng định: Vào tối ngày 03/4/2024, bị cáo Võ Văn H rủ bị cáo Trần Đức H2 đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài. Tại thôn Q, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định, các bị cáo đã có hành vi trộm cắp 03 chiếc xe điện đồ chơi; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus của ông Nguyễn Đức T2 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 của bà Trần Thị Kim N2. Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 điện thoại di động hiệu IPhone 11 màu xanh, dung lượng 64GB, trị giá 5.500.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu IPhone 8 Plus màu đen, dung lượng 64GB, trị giá 3.000.000 đồng; chiếc xe đồ chơi điện màu xanh, kiểu dáng xe cào cào, được gắn 03 bình ắc quy loại 12V, trị giá 3.500.000 đồng; chiếc xe đồ chơi điện màu vàng, kiểu dáng xe cào cào, được gắn 03 bình ắc quy loại 12V, trị giá 3.500.000 đồng và chiếc xe đồ chơi điện màu hồng, kiểu dáng xe giống xe Chaly, được gắn 03 bình ắc quy loại 12V, trị giá 3.500.000 đồng. Tổng giá trị thành tiền là 19.000.000 đồng (mười chín triệu đồng); Bị cáo Võ Văn N1 mặc dù biết rõ chiếc xe điện đồ chơi màu vàng là do các bị cáo Võ Văn H và Trần Đức H2 trộm cắp mà có rồi đem đến bán cho bị cáo nhưng bị cáo vẫn đồng ý mua. Bị cáo Võ Văn H đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Do đó, Cáo trạng cũng như lời luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo Võ Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự; bị cáo Trần Đức H2 phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự; bị cáo Võ Văn N1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Hành vi nêu trên của các bị cáo Võ Văn H, Trần Đức H2 là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo Võ Văn N1 là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, trật tự quản lý nhà nước đối với tài sản do phạm tội mà có được pháp luật hình sự bảo vệ; Hành vi của các bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an ở địa phương nên cần xử lý nghiêm.

[4] Trong vụ án có ba bị cáo tham gia với vai trò đồng phạm giản đơn, xét vai trò của từng bị cáo thì thấy:

Đối với bị cáo Võ Văn H: Trong vụ án này bị cáo tham gia với vai trò chính, rủ rê bị cáo H2 thực hiện việc phạm tội, bị cáo trực tiếp chuẩn bị dụng cụ, cắt lưới B40, đứng canh giới, chuyển dịch tài và tìm nơi giấu tài sản, tổng giá trị tài sản mà bị cáo H trộm cắp là 19.000.000 đồng nên phải xử phạt nghiêm khắc đối với bị cáo.

Đối với bị cáo Trần Đức H2, lẽ ra khi nghe bị cáo H rủ rê trộm cắp tài sản bị cáo phải can ngăn hoặc không tham gia mới phải, nhưng vì muốn có tiền tiêu xài nên đã tham gia giúp sức tích cực, bị cáo trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, liên hệ tiêu thụ tài sản, tổng giá trị tài sản mà bị cáo H2 trộm cắp là 19.000.000 đồng nên phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi do bị cáo gây ra.

Đối với bị cáo Võ Văn N1, biết rõ chiếc xe điện đồ chơi màu vàng là do các bị cáo H và H2 trộm cắp mà có nhưng vì hám lợi, bị cáo vẫn đồng ý mua, xe điện đồ chơi màu vàng bị cáo tiêu thụ có trị giá 3.500.000 đồng nên phải xử phạt bị cáo tương xứng với hành vi do bị cáo gây ra.

Các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thật thà khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải nên cần được xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Bị cáo Võ Văn N1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên xem xét áp dụng điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Bị cáo N1 có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo tự cải tạo trong sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú vẫn bảo đảm tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Do các bị cáo không có việc làm, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Đức T2 và chị Trần Thị Kim N2 không yêu cầu nên không xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) kìm bằng cộng lực dài 43cm; phần cán cầm tay được bọc nhựa màu xanh, tại mũi kìm có dòng chữ U.S.A; là vật chứng vụ án không còn giá trị kinh tế.

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) xe mô tô gắn biển số 60B2-224.67, màu sơn: Đen, loại xe số, kiểu dáng giống xe Sirius, vị trí nơi đóng số khung, số máy bị đục không xác định được số khung, số máy; 01 (một) xe mô tô biển số đăng ký 77L1-840.10, nhãn hiệu: Yamaha, số loại: Jupiter, màu sơn: Đỏ Đen, số máy: 5B96032678, số khung: RLCJ5B9608Y032678; là vật chứng vụ án, không xác định được chủ sở hữu và còn giá trị kinh tế.

[7] Lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát về hình phạt đối với các bị cáo đã căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, các tình tiết đánh giá về nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như về trách nhiệm dân sự phù hợp một phần với nhận định nêu trên của Tòa án.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56, Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Võ Văn H;

Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Đức H2;

Căn cứ khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Võ Văn N1;

Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Võ Văn H, Trần Đức H2 đều phạm tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo Võ Văn N1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
  2. Về hình phạt:
    1. Xử phạt bị cáo Võ Văn H 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tổng hợp với hình phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” của Bản án số 64/2022/HS-ST ngày 30-12-2022 của Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định; buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 Bản án là 45 (Bốn mươi lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04 tháng 4 năm 2024.
    2. Xử phạt bị cáo Trần Đức H2 18 (mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05 tháng 4 năm 2024.
    3. Xử phạt bị cáo Võ Văn N1 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 22 tháng 8 năm 2024).

    Giao bị cáo Võ Văn N1 cho Ủy ban nhân dân phường B, thành phố Q, tỉnh Bình Định giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Trường hợp người được hưởng án treo có thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 và khoản 1 Điều 68 của Luật thi hành án hình sự.

  3. Xử lý vật chứng:
    1. Tịch thu, tiêu hủy:
    2. 01 (một) kìm bằng cộng lực dài 43cm; phần cán cầm tay được bọc nhựa màu xanh, tại mũi kìm có dòng chữ U.S.A.

      Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15 tháng 7 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

    3. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước:
    4. - 01 (một) xe mô tô gắn biển số 60B2-224.67, màu sơn: Đen, loại xe số, kiểu dáng giống xe Sirius, vị trí nơi đóng số khung, số máy bị đục không xác định được số khung, số máy;

      - 01 (một) xe mô tô biển số đăng ký 77L1-840.10, nhãn hiệu: Yamaha, số loại: Jupiter, màu sơn: Đỏ Đen, số máy: 5B96032678, số khung: RLCJ5B9608Y032678.

      Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15 tháng 7 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

  4. Về án phí hình sự sơ thẩm:
  5. Buộc các bị cáo Võ Văn H, Trần Đức H2, Võ Văn N1 mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

  6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt, niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Đinh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Phước;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Tuy Phước;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phước;
  • - Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo, đương sự;
  • - Lưu: Văn thư, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Cẩm Tú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH về trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 60/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định truy tố các bị cáo Võ Văn Hưng về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger