|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 60/2024/DSPT
Ngày: 15/5/2024
“V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Hòa;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Bình;
Ông Đỗ Thế Bình.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Thân Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 80/2024/TLPT-DS ngày 18/01/2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 23/2023/DS-ST ngày 05/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 74/2024/QĐ-PT ngày 05/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị L, sinh năm 1958; Địa chỉ: Thôn N, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Ninh. (Có mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:
- Chị Hà Thị L1, sinh năm 1983; Địa chỉ: Thôn K, xã L, huyện L, tỉnh Bắc Ninh (con gái bà L). (Có mặt)
- Ông Nguyễn Ngọc T; Địa chỉ: Số A, đường N, phường C, thành phố H, tỉnh Hải Dương. (Có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Luân Thị N – Công ty L4, chi nhánh H2 – Đoàn luật sư thành phố H; địa chỉ: Số A, đường N, phường C, thành phố H, tỉnh Hải Dương. (Có mặt).
- Bị đơn: Ông Ngô Xuân S, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1958; Địa chỉ: Thôn N, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Ninh. (Đều có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Hà Thị L2, sinh năm 1979. (Vắng mặt)
- Chị Hà Thị L1, sinh năm 1983. (Có mặt)
- Anh Hà Trọng Đ, sinh năm 1986. (Vắng mặt)
- Chị Hà Thị Đ1, sinh năm 1988. (Vắng mặt)
- Chị Hà Thị L3, sinh năm 1981; Địa chỉ: Số nhà A, Đ, phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. (Vắng mặt)
- Chị Hà Thị Đ2, sinh năm 1990; Địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Ninh. (Có mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn N, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Ninh.
Do có kháng cáo của nguyên đơn bà Phạm Thị L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu trong hồ sơ thì vụ án có nội dung như sau:
Nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Gia đình chị L1 có thửa đất số: 314, tờ bản đồ số: 13, có diện tích 276 m² (gọi tắt là thửa đất số 314) nằm tại thôn N, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Ninh cùng các tài sản có trên đất có nguồn gốc là của cha ông để lại. Theo hồ sơ kỹ thuật thửa đất năm 2004 mang tên ông Hà Trọng Đoàn B chị là chủ hộ (đã chết ngày 08/6/2019) và mẹ chị là bà Phạm Thị L. Thửa đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (gọi tắt là GCNQSDĐ) nhưng gia đình chị vẫn sử dụng ổn định từ đó cho đến nay không có tranh chấp gì, tài sản trên đất là của bố mẹ chị xây dựng, các con không có đóng góp công sức.
Theo hồ sơ kỹ thuật thửa đất năm 2004, Thửa đất số 314 có tứ cận như sau: Phía Bắc giáp hộ ông Hà Trọng T1; Phía Nam giáp phần đất nhà ông Ngô Xuân S; Phía Đông giáp ngõ đường đi nhà ông S; Phía Tây giáp đất nhà ông Ngô Xuân K.
Quá trình sử dụng, gia đình nhà ông S bà H đã tự ý làm lán chăn nuôi rồi gác các cột trụ trực tiếp lên tường nhà chị. Vào khoảng giữa năm 2022 gia đình ông S tiếp tục xây nhà trên phần đất thuộc phần đất của nhà chị, còn phần trống làm biên giới ngăn cách giữa hai nhà; khi gia đình ông S bắt đầu xây thì mẹ chị đã nói chuyện với nhà ông S và yêu cầu xây dịch vào trong thuộc về phần đất nhà ông S, nhưng ông S không nghe mà vẫn tiếp tục xây dựng sang 01 phần đất của nhà chị. Ông S cho rằng ông xây đúng phần đất của nhà ông, cố tình xây dựng. Do vậy gia đình chị đã tự bỏ tiền ra thuê công ty đo đạc về đo hiện trạng sử dụng đất giữa hai nhà và căn cứ vào hồ sơ kỹ thuật thửa đất và trích lục bản đồ năm 2004 do xã và huyện, tỉnh quản lý thì gia đình chị phát hiện ra nhà ông S đã xây lấn sang phần đất nhà chị khoảng 4,7m². Gia đình chị đã làm đơn lên UBND xã để giải quyết, hòa giải việc tranh chấp phần đất giữa hai nhà nhưng không có kết quả.
Do đó, mẹ chị là bà L làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lương Tài giải quyết buộc gia đình ông S, bà H trả lại phần diện tích đã lấn chiếm là 4,7 m²; đồng thời ông S bà H có nghĩa vụ tháo dỡ, di dời tường xây cùng các tài sản khác có liên quan ra khỏi phần đất đã bị lấn chiếm. Còn nếu theo hiện trạng nhà chị mà lấn sang thửa đất nhà ông S ở phần nào thì gia đình chị sẽ trả lại đúng theo hồ sơ kỹ thuật thửa đất mà nhà nước đã giao cho.
Bị đơn ông Ngô Xuân S bà Nguyễn Thị H cùng trình bày:
Theo hồ sơ kỹ thuật thửa đất, vợ chồng ông là chủ sử dụng hợp pháp đối với thửa đất số 313, tờ bản đồ số: 13, có diện tích 666 m² (gọi tắt là thửa đất số 313) nằm tại thôn N, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Ninh. Về nguồn gốc: Thửa đất trên gia đình ông S đã ở từ lâu từ thời cha ông để lại. Thửa đất này hiện chưa được cấp GCNQSDĐ nhưng ông bà đã sử dụng ổn định, không có tranh chấp các hộ liền kề. Tứ cận của thửa đất số 313 như sau: Phía Bắc giáp nhà bà L và lối đi chung bà L, nhà ông T1; Phía Nam giáp phần đất ao nhà ông Ngô Xuân S; Phía Đông giáp đất nhà ông C, bà H1, ông C1; Phía Tây giáp đất nhà ông K và bà L.
Phần đất phía Bắc giáp ranh với phần đất nhà bà L đang có tranh chấp vẫn có khe hở. Trên thửa đất có 01 ngôi nhà 03 gian cấp 4 và một gian buồng xây năm 2022; 01 ngôi nhà 03 gian ông bà tu sửa lại để ở. Trước khi xây ông S có gọi các hộ liền kề trong đó có gia đình bà L đến phân định ranh giới giữa các hộ và đi đến thống nhất. Sau khi thống nhất ông S đã tiến hành xây dựng, trong quá trình xây dựng khi xây thẳng tường lên cao thì gia đình ông S phát hiện tường xây giáp với thửa đất nhà bà L có chạm vào tai con sứ ở góc tầng 01 của nhà bà L, nên gia đình ông không xây lên cao nữa. Hiện nay sống trên thửa đất có ông, vợ ông S là bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1958; con trai là Ngô Xuân C2, sinh năm 1976, con dâu là Hà Thị S1, sinh năm 1979. Các con ông S không có đóng góp gì vào khối tài sản này.
Vào khoảng 2010 vợ chồng ông đã tặng cho con trai là Ngô Xuân C2 với diện tích là 290 m² tách từ thửa số 313 của ông bà ra riêng biệt, diện tích đất này nằm ở phía Nam của thửa đất; còn lại diện tích 376 m² đất ở nằm về phía bắc ông bà đang sử dụng tiếp giáp hộ bà Phạm Thị L.
Gia đình bà L sau khi biết bức tường xây do ông xây dựng giáp ranh giới nhà bà nên gia đình bà L đã tự đi thuê công ty Đ3 về đo mà không có sự chứng kiến của gia đình ông nhằm mục đích xác định mô mốc ranh giới. Sau khi có kết quả, gia đình bà L sang nói chuyện với gia đình ông là có lấn sang thửa đất nhà bà L một đầu 50 cm và đầu 40 cm nhưng ông không đồng ý việc bà L yêu cầu ông trả lại phần đất đã lấn chiếm.
Bà L đã làm đơn khởi kiện yêu cầu gia đình ông trả lại diện tích đã lấn chiếm là 4,7 m². Nay ông đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lương Tài xác định giải quyết theo pháp luật, ông không đồng ý với việc nguyên đơn yêu cầu gia đình ông trả lại diện tích đã lấn chiếm. Ngoài ra ông không có yêu cầu nào khác.
Với nội dung trên, Bản án sơ thẩm số 23/2023/DSST ngày 05/10/2023 của Toà án nhân dân huyện Lương Tài áp dụng khoản 2 khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39; 91, 92, 147, 155, 156, 157, 165, Điều 264, Điều 266, Điều 267 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 166, 170, Điều 203 Luật đất đai 2013. Căn cứ Điều 158, 163, 164, 166, 174, 175,176 Bộ luật dân sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về phí, án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Phạm Thị L: Lấy đường nét đứt trong tờ bản đồ trích lục thửa đất năm 2004 đang được sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B đo vẽ quản lý làm căn cứ.
Xác định ông Ngô Xuân S và Nguyễn Thị H đã xây dựng một phần tường nhà ở và tường bao nằm trên diện tích đất đã lấn chiếm của hộ gia đình bà Phạm Thị L là 4,7m² giới hạn bởi các điểm 15, 25, 24, 23, 21, 22, 15 theo phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 17/03/2023 của Công ty TNHH X “Đức” (Có phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất đính kèm).
Buộc ông Ngô Xuân S và bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ bồi thường cho hộ gia đình bà Phạm Thị L số tiền là 18.800.000 đồng.
Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn đề nghị phía bị đơn có nghĩa vụ phải tháo dỡ, di dời các công trình đã xây dựng trên diện tích đất là 4,7m².
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 18/10/2023, nguyên đơn bà Phạm Thị L có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị hủy một phần bản án sơ thẩm, không đồng ý kết quả định giá tại cấp sơ thẩm, không đồng ý việc Tòa án buộc ông S bà H trả bằng tiền với diện tích đất lấn chiếm và đề nghị Tòa án buộc ông S bà H phải tháo dỡ di dời và hoàn trả toàn bộ diện tích 4,7m² đã lấn chiếm.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 29/3/2024, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không đề nghị Tòa án định giá lại tài sản tranh chấp, đề nghị Tòa án tạm ngừng phiên tòa để nguyên đơn mời Công ty trong lĩnh vực xây dựng có chức năng xem xét thẩm định và tháo dỡ nhà để lấy căn cứ tháo dỡ công trình xây dựng của nhà ông S bà H trên phần đất lấn chiếm.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo, không đề nghị Tòa án định giá lại tài sản tranh chấp, đề nghị Tòa án án sửa bản án sơ thẩm theo hướng buộc ông S bà H phải trả bằng đất phần diện tích lấn chiếm và tháo dỡ các tài sản trên phần đất lấn chiếm, không chấp nhận trả bằng tiền như quyết định của bản án sơ thẩm.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày, tranh luận đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, đồng thời đề nghị Tòa án tạm ngừng phiên tòa để Hội đồng xét xử cùng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh, các đương sự về thẩm định, xem xét, đánh giá kết cấu công trình xây dựng của gia đình ông S để căn cứ giải quyết vụ án. Nếu không phá dỡ được công trình chính thì yêu cầu phá dỡ công trình phụ nhà vệ sinh trên phần đất lấn chiếm.
Trong phần tranh luận, bị đơn là ông S thừa nhận đã xây dựng công trình trên đất của nguyên đơn là 4,7m² song không đồng ý với yêu cầu kháng cáo về việc tháo dỡ công trình thì sẽ ảnh hưởng lớn đến kết cấu công trình đã xây dựng và đời sống sinh hoạt gia đình. Bị đơn tự nguyện trích trả cho nguyên đơn bà L số tiền 40.000.000 đồng.
Các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý phúc thẩm cho đến phần tranh luận tại phiên tòa là đảm bảo theo đúng trình tự, quy định của pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ khoản 2 Điều 308 BLTTTDS: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm về việc công nhận sự tự nguyện của bị đơn trích trả cho bà L số tiền là 40.000.000 đồng, sửa lại cách tuyên bản án sơ thẩm. Về án phí: Bà L được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Phạm Thị L nộp trong hạn luật định là kháng cáo hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2]. Xem xét kháng cáo của nguyên đơn bà Phạm Thị L thì thấy:
[2.1]. Đối với thửa đất hộ gia đình bà L: Thửa đất số 314, tờ bản đồ số: 13, có diện tích 276 m² của gia đình bà L có nguồn gốc do cha ông để lại sử dụng cho đến nay. Thửa đất hiện chưa được cấp GCNQSDĐ nhưng căn cứ vào hồ sơ thửa đất tại sổ địa chính tại địa phương từ các năm 1999; 2000, 2004 đều thể hiện diện tích, tứ cận thửa đất của gia đình bà L. Gia đình bà L đóng thuế đất hằng năm và sinh sống ổn định không có tranh chấp các hộ liền kề.
Đối với thửa đất của hộ gia đình ông S: Thửa đất ông S có vị trí nằm tiếp giáp với thửa đất của gia đình bà L. Thửa đất số 313, tờ bản đồ số: 13, có diện tích 666 m² nhà ông S có nguồn gốc của cha ông để lại. Thửa đất chưa được cấp GCNQSDĐ nhưng căn cứ theo hồ sơ kỹ thuật tại sổ địa chính địa phương xác định hiện trạng và tứ cận thửa đất nhà gia đình ông S. Năm 2010 thì vợ chồng ông S bà H đã tặng cho con trai là anh Ngô Xuân C2 đã làm nhà riêng và ở riêng biệt với diện tích là 290 m² cùng thửa đất số: 313; phần đất còn lại 376 m² vợ chồng ông S bà H sử dụng và nằm ở phía Bắc tiếp giáp với thửa đất nhà bà L.
Năm 2022, bà L cho rằng gia đình ông S xây 01 nhà 03 gian cấp 4 và một buồng, công trình phụ, tường bao dài khoảng 12,06m ở phía Bắc của thửa đất số 313, tiếp giáp thửa đất số 314 của nhà bà và xây lấn chiếm trên phần đất của nhà bà L.
Căn cứ Kết quả đo đạc hiện trạng hai thửa đất xác định: Đối với hộ gia đình bà Phạm Thị L: Tổng diện tích được sử dụng là 276m²; đo đạc hiện trạng thực tế sử dụng là 271,3m²; do vậy bị giảm 4,7m² việc đo đạc thực tế hiện trạng của thửa đất hộ gia đình bà L phù hợp với bản đồ đo vẽ do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B đang quản lý.
Đối với hộ gia đình ông Ngô Xuân S: Diện tích đất ở thửa đất số: 313 bản đồ trích lục của của thửa đất này đang được sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B đo vẽ và quản lý thì diện tích đất ở là 666.0m²; đo đạc hiện trạng thực tế sử dụng là 670,7m²; diện tích đất tăng 4,7m².
Do đó, căn cứ vào kết quả đo đạc thực tế và đối chiếu với trích lục bản đồ do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B đo vẽ, quản lý, có căn cứ xác định gia đình ông S xây dựng lấn chiếm lên thửa đất nhà bà L là 4,7m². Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[2.2]. Đối với hiện trạng thực tế trên phần đất ông S xây lấn chiếm thì thấy: Nhà ông S xây dựng toàn bộ phần đầu hồi của ngôi nhà cùng tường bao xây gạch và công trình phụ kiên cố đã xây lên trên phần dất thuộc quyền sử dụng của hộ gia đình bà L. Phần diện tích lấn chiếm nằm trên đường kéo dài của thửa đất là 67,37m, có đầu phía Đông là 0,05cm; đầu phía tây là 0,25cm (Thuộc phần đất của hộ gia đình bà L). Do công trình nhà ông S xây dựng kiên cố khó tháo dỡ, việc tháo dỡ có thể làm ảnh hưởng tới kết cấu chung của toàn bộ công trình của nhà ông S nên để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn và cũng không làm ảnh hưởng hay gây thiệt hại đối với các công trình của hộ gia đình bà L. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải buộc ông S tháo dỡ, di dời các công trình đã xây dựng trên phần đất đã lấn chiếm 4,7m² của hộ gia đình bà L mà cần giữ nguyên hiện trạng sử dụng đất và các công trình gắn liền với đất của hộ gia đình ông S đang sử dụng nhưng cần buộc gia đình ông S bà H có nghĩa vụ trích trả trị giá 4,7m² diện tích đất đã lấn chiếm được tính ra trị giá bằng tiền cho gia đình bà L là phù hợp.
[2.3]. Ngày 15/3/2023, Tòa án sơ thẩm tiến hành định giá tài sản xác định giá thị trường của thửa đất là 4.000.000 đồng/m². Nguyên đơn kháng cáo cho rằng giá được định giá quá thấp so với thị trường hiện nay, tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đều không yêu cầu định giá lại. Theo bản án sơ thẩm tuyên vợ chồng ông S buộc phải trích trả cho hộ gia đình bà L số tiền là 18.800.000 đồng. Tại phiên tòa hôm nay, ông S nhận thấy giá trị quyền sử dụng đất có sự biến động tăng lên so với thời điểm định giá tại cấp sơ thẩm nên tự nguyện trích trả cho hộ gia đình bà L số tiền là 40.000.000 đồng, không chấp nhận phá dỡ công trình đã xây dựng trên phần đất lấn chiếm. Hội đồng xét xử thấy đây là sự tự nguyện của đương sự, không vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội nên cần chấp nhận.
[3] Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc xem xét thẩm định tại chỗ để làm căn cứ tháo dỡ công trình của bị đơn, Hội đồng xét xử đã tạm ngừng phiên tòa để nguyên đơn cung cấp Công ty có đủ năng lực theo quy định của pháp luật có khả năng thực hiện việc tháo dỡ và thiết kế biện pháp gia cố khi tháo dỡ công trình, nhưng hết thời hạn tạm ngừng nguyên đơn không cung cấp được. Đồng thời, Tòa án đã có Công văn yêu cầu Trung tâm kiểm định chất lượng và kinh tế xây dựng – Sở X xem xét về việc tháo dỡ công trình nhà ông S. Trung tâm kiểm định chất lượng và kinh tế xây dựng phúc đáp bằng Công văn số 85/TTKÐ-KĐCL ngày 26/4/2024 trả lời, xác định: Phần tài sản trên phần đất lấn chiếm cần tháo dỡ là công trình xây dựng gồm “...phần đầu hồi của ngôi nhà cùng tường bao gạch và công trình phụ...” thì việc tháo dỡ phần tài sản trên sẽ gây ảnh hưởng đến kết cấu chung của công trình nếu việc tháo dỡ được thực hiện khi không đảm bảo các yêu cầu về giải pháp thiết kế về thi công, biện pháp gia cố phần còn lại của công trình trước khi thực hiện tháo dỡ, có biện pháp tháo dỡ đảm bảo an toàn cho công trình phải tháo dỡ và công trình lân cận, biện pháp đảm bảo an toàn lao động trong quá trình tháo dỡ; đồng thời việc thiết kế biện pháp và thực hiện tháo dỡ phải do tổ chức có đầy đủ năng lực theo quy định của pháp luật và phải được cơ quan pháp luật thụ lý giải quyết vụ việc chấp thuận, thông báo cho các bên có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phối hợp, giám sát trong quá trình thực hiện.
Như vậy, có thể thấy nếu không có biện pháp tháo dỡ và gia cố an toàn thì việc tháo dỡ sẽ gây ảnh hưởng đến kết cấu chung của công trình nhà ông S, đồng thời Tòa án cho thời gian nhất định để nguyên đơn cung cấp công ty, tổ chức trong lĩnh vực xây dựng có chức năng thẩm định, tháo dỡ kết cấu công trình, tuy nhiên cho đến nay nguyên đơn không cung cấp được Công ty có đủ năng lực pháp luật có chức năng tháo dỡ và gia cố công trình xây dựng theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn không cung cấp được cho Tòa án bất kỳ công ty tổ chức nào có đủ năng lực thực hiện việc tháo dỡ công trình, tiếp tục đề nghị Hội đồng xét xử cùng đại điện Viện kiểm sát xem xét thẩm định, đánh giá kết cấu công trình xây dựng nhà ông S. Xét thấy: Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân không có chức năng xem xét thẩm định đánh giá kết cấu công trình xây dựng, việc xem xét đánh giá công trình phải thực hiện bởi công ty có chuyên môn nên không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, nguyên đơn kháng cáo một phần bản án nhưng không đưa ra tài liệu, chứng cứ nào mới để chứng minh yêu cầu kháng cáo của mình nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.
Tuy nhiên, cần sửa bản án sơ thẩm về cách tuyên án như sau: Xác định phần đất của ông S bà H lấn chiếm là 4,7m² và tuyên giao cho ông S bà H được quyền sử dụng 4,7m² phần diện tích đất lấn chiếm.
[4] Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm số 23/2023/DSST ngày 05/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lương Tài không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
[5] Về án phí: Bà L được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
-
Không chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị L, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 23/2023/DSST ngày 05/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lương Tài như sau:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị L về việc buộc bị đơn ông Ngô Xuân S và bà Nguyễn Thị H phải trả phần diện tích đất lần chiếm là 4,7m² . Lấy đường nét đứt trong tờ bản đồ trích lục thửa đất năm 2004 đang được sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B đo vẽ quản lý làm căn cứ.
Xác định ông Ngô Xuân S và bà Nguyễn Thị H đã xây dựng một phần tường nhà ở và tường bao nằm trên diện tích đất đã lấn chiếm của hộ gia đình bà Phạm Thị L là 4,7m² giới hạn bởi các điểm 15, 25, 24, 23, 21, 22, 15 theo phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 17/03/2023 của Công ty TNHH X “Đức” (có sơ đồ kèm theo bản án).
Giao cho ông S bà H được quyền sử dụng diện tích đất lấn chiếm là 4,7m² và các tài sản trên phần đất này. Chấp nhận sự tự nguyện của ông S bà H trích trả cho hộ gia đình bà Phạm Thị L số tiền là 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng).
Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc tháo dỡ, di dời các công trình đã xây dựng trên diện tích đất là 4,7m².
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Các đương sự có quyền liên hệ với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục kê khai, đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thực hiện nghĩa vụ tài chính (nếu có) theo quy định của pháp luật.
-
Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm số 23/2023/DSST ngày 05/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lương Tài không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
-
Về án phí phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Phạm Thị L.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Quang Hòa |
Bản án số 60/2024/DSPT ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 60/2024/DSPT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
