Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN TRE

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2024/DS-ST.

Ngày: 07.5.2024.

V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuân Thi

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trịnh Ngọc Hồng
  2. Bà Nguyễn Thị Bé Em

Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Thái Khang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre

Vào ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 54A/2024/TLST-DS ngày 19 tháng 02 năm 2024 về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Hoàng T, sinh năm 1965. Địa chỉ: C khu phố D, Phường H, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
  2. Đaị diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Trần Thị Ngọc Như Ý, sinh năm 1992. Địa chỉ: Cấp M, xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

  3. Bị đơn: Ông Trần Phi L, sinh năm 1986 và bà Diệp Thanh T1, sinh năm 1980. Địa chỉ: C khu phố D, phường H, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

Các đương sự có mặt tại tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng của nguyên đơn bà Lê Thị Hoàng T là bà Trần Thị Ngọc Như Ý trình bày:

Do nhà ở gần nhau, nên nguyên đơn có cho ông L, bà T1 vay tiền nhiều lần để sửa nhà. Cụ thể:

Lần 1: Ngày 12/11/2023 vay 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng), thời hạn vay 02 tháng, lãi suất tự thỏa thuận;

Lần 2: Ngày 19/11/2023 vay 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng), thời hạn vay 02 tháng, lãi suất tự thỏa thuận;

Lần 3: Ngày 20/11/2023 vay 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng), thời hạn vay 02 tháng, lãi suất tự thỏa thuận;

Lần 4: Ngày 22/11/2023 vay 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng), thời hạn vay 02 tháng, lãi suất tự thỏa thuận;

Tổng số tiền nguyên đơn cho ông L, bà T1 vay là 185.000.000đ (một trăm tám mươi lăm triệu đồng).

Cả 04 lần vay tiền đều được các bên lập thành Bản hợp đồng vay tiền và có ký tên xác nhận. Mặc dù trong văn bản không ghi lãi suất nhưng các bên thỏa thuận là 2.5% hàng tháng.

Sau khi hết thời hạn vay đã lâu nhưng ông L, bà T1 không trả tiền gốc cho nguyên đơn. Về lãi suất thì ông bà chỉ trả được 380.000đ (ba trăm tám mươi nghìn đồng) thì không trả nữa.

Do đó, nguyên đơn đã yêu cầu Tổ hòa giải khu phố D, phường H tiến hành hòa giải sự việc trên, tại buổi hòa giải ngày 04/01/2024, ông L thừa nhận có nợ nguyên đơn số tiền vay gốc 185.000.000đ (một trăm tám mươi lăm triệu đồng) và hứa khi nào bán nhà được thì sẽ trả lại cho nguyên đơn số tiền trên cùng với lãi suất 2.5%/tháng kể từ tháng 12/2023.

Tuy nhiên, sau khi tìm hiểu bà T được biết ông L, và T1 đã chuyển nhượng căn nhà và đất do ông bà đang ở cho người khác từ tháng 9/2023 đến nay nhưng ông bà vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn như cam kết.

Vì thế, nay nguyên đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre xem xét buộc ông Trần Phi L và bà Diệp Thanh T1 phải có trách nhiệm liên đới trả cho nguyên đơn tổng số tiền vay gốc là 185.000.000đ (một trăm tám mươi lăm triệu đồng);

Về lãi suất, nguyên đơn yêu cầu ông L, bà T1 phải trả lãi suất cho nguyên đơn kể từ thời điểm vi phạm nghĩa trả lãi theo mức lãi suất 1,67%/tháng đến khi Tòa án xét xử sơ thẩm. Cụ thể:

  • Tạm tính lãi suất của số tiền vay 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng) từ ngày 12/11/2023 đến ngày 07/5/2024 là: 1.461.250 đồng;
  • Tạm tính lãi suất của số tiền vay 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) từ ngày 19/11/2023 đến ngày 07/5/2024 là: 4.676.000 đồng;
  • Tạm tính lãi suất của số tiền vay 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng) từ ngày 20/11/2023 đến ngày 07/5/2024 là: 5.577.800 đồng;
  • Tạm tính lãi suất của số tiền vay 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng) từ ngày 22/11/2024 đến ngày 07/5/2024 là: 5.520.000 đồng.

Tổng số lãi nguyên đơn yêu cầu là 17.235.000 đồng.

Do sau khi ký các bảng hợp đồng vay tiền, phía bị đơn có thanh toán được 380.000 đồng tiền lãi nên bị đơn đồng ý trừ lại 380.000 đồng vào tiền lãi. Số tiền lãi sau khi trừ là 16.855.000 đồng

Tổng gốc và lãi yêu cầu ông L, bà T1 phải trả là: 201.855.000 (Hai trăm lẻ một triệu tám trăm năm mươi lăm nghìn) đồng.

* Bị đơn ông Trần Phi L và bị đơn bà Diệp Thanh T1 trình bày:

Bị đơn ông L, bà T1 thừa nhận có vay tiền và còn nợ nguyên đơn số tiền gốc là 185.000.000 (Một trăm tám mươi lăm triệu) đồng. Mỗi tháng bị đơn đã có đóng lãi cho bà T 12.000.000 (Mười hai triệu) đồng, đóng từ tháng 02/2023 cho đến tháng 11/2023 thì không có khả năng đống nên có xin bà T giảm lãi, bà T đồng ý giảm lãi còn 2,5%/tháng. Bà T yêu cầu viết giấy nợ mới vào tháng 11/2023 nên ông bà có ký giấy nợ như nguyên đơn trình bày.

Tổng cộng ông bà đã đóng lãi được 92triệu đồng, ông bà yêu cầu trừ lại số tiền lãi này.

Tại phiên tòa, bị đơn thừa nhận có nợ 185.000.000 (Một trăm tám mươi lăm triệu) đồng, bị đơn đồng ý trả số tiền này nhưng không đồng ý tiền lãi vì ông bà đã đóng lãi nhiều trước đó và hiện tại ông bà không có khả năng để trả lãi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Lê Thị Hoàng T khởi kiện yêu cầu ông Trần Phi LDiệp Thanh T1 có nghĩa vụ trả cho số tiền vay nên quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định là “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Bị đơn ông Trần Phi LDiệp Thanh T1 có nơi cư trú tại thành phố B, tỉnh Bến Tre nên Toà án nhân dân thành phố Bến Tre căn cứ vào các Điều 26; Điều 35; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 để thụ lý giải quyết vụ án.

[2] Về nội dung:

[2.1] Bà Lê Thị hoàng T2 có cho ông L, bà T1 vay tiền nhiều lần. Cụ thể như sau:

Lần 1: Ngày 12/11/2023 vay 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng), thời hạn vay 02 tháng, lãi suất tự thỏa thuận;

Lần 2: Ngày 19/11/2023 vay 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng), thời hạn vay 02 tháng, lãi suất tự thỏa thuận;

Lần 3: Ngày 20/11/2023 vay 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng), thời hạn vay 02 tháng, lãi suất tự thỏa thuận;

Lần 4: Ngày 22/11/2023 vay 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng), thời hạn vay 02 tháng, lãi suất tự thỏa thuận;

Tổng số tiền vay gốc là 185.000.000đ (một trăm tám mươi lăm triệu) đồng.

Cả bốn lần vay tiền trên, hai bên có lập 04 Bản hợp đồng vay tiền có chữ ký của hai bên. Bị đơn ông L, bà T1 đều thừa nhận chữ ký trong các văn bản này là do ông bà ký.

[2.2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với việc yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ gốc 185.000.000 (một trăm tám mươi lăm triệu) đồng.

Căn cứ khởi kiện của nguyên đơn là 04 Bản hợp đồng vay tiền ghi ngày 12/11/2023, 19/11//2023, 20/11/2023 và 22/11/2023, có chữ ký của bị đơn ông L, bà T1.

Phía bị đơn thừa nhận chữ ký trong 04 Bản hợp đồng vay tiền ghi ngày 12/11/2023, 19/11//2023, 20/11/2023 và 22/11/2023 này là chữ ký của bị đơn ông LT1 và ông bà cũng thừa nhận số nợ 185.000.000 đồng, bị đơn đồng ý trả số tiền này.

Đây là chứng cứ theo quy định khoản 1 Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự và bị đơn thừa nhận các chứng cứ này nên nguyên đơn không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Như vậy đã có đủ cơ sở Hội đồng xét xử xác định: bị đơn ông L, bà T1 có vay tiền của T2 với số tiền nợ gốc là 185.000.000 đồng, Tại phiên tòa, bị đơn đồng ý trả số tiền này nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả số nợ gốc 185.000.000 đồng.

[2.3] Xét yêu cầu tính lãi của nguyên đơn:

Nguyên đơn yêu cầu ông L, bà T1 phải trả lãi suất cho nguyên đơn kể từ thời điểm vi phạm nghĩa trả lãi theo mức lãi suất 1,67%/tháng đến khi Tòa án xét xử sơ thẩm.

Hội đồng xét xử xét thấy, tại phiên tòa các bên thống nhất nội dung khi ký các văn bản thỏa thuận vay tiền các bên có thỏa thuận lãi suất 2,5%/tháng, thỏa thuận này vượt quá quy 20%/năm tại khoản 1 Điều 468 nên lãi suất được tính lại theo quy định là 20%/năm (tức 1,67%/tháng).

Bị đơn không đồng ý tính lãi số tiền này vì cho rằng đã thanh toán lãi mỗi tháng 12.000.000 đồng cho nguyên đơn, nội dung này không được nguyên đơn thừa nhận. Bị đơn cũng không có chứng cứ nào để chứng minh cho lời trình bày của mình. Bị đơn có xuất trình bảng sao kê của Ngân hàng nhưng thời điểm chuyển tiền đều trước tháng 11/2023, bảng sao kê không có lần nào chuyển số tiền 12.000.000 đồng cho nguyên đơn như bị đơn trình bày và các lần chuyển khoản đều không thể hiện nội dung chuyển khoản nhằm mục đích gì. Bị đơn cũng thừa nhận từ sau tháng 11/2023, bị đơn chỉ thanh toán được 380.000 đồng tiền lãi.

Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu tính lãi của nguyên đơn với mức lãi suất 1,67%/tháng là có cơ sở để chấp nhận.

Cụ thể số tiền lãi bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn là:

  • Tiền lãi của số tiền vay 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng) từ ngày 12/11/2023 đến ngày 07/5/2024 là: 1.461.250 đồng;
  • Tiền lãi của số tiền vay 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) từ ngày 19/11/2023 đến ngày 07/5/2024 là: 4.676.000 đồng;
  • Tiền lãi của số tiền vay 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng) từ ngày 20/11/2023 đến ngày 07/5/2024 là: 5.577.800 đồng;
  • Tiền lãi của số tiền vay 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng) từ ngày 22/11/2024 đến ngày 07/5/2024 là: 5.520.000 đồng.

Tổng cộng tiền lãi của các khoản vay là 17.235.000 (Mười bảy triệu hai trăm ba mươi lăm nghìn) đồng.

Do sau khi ký các bảng hợp đồng vay tiền, phía bị đơn có thanh toán được 380.000 (ba trăm tám mươi nghìn) đồng tiền lãi nên nguyên đơn đồng ý trừ lại 380.000 đồng vào tiền lãi mà nguyên đơn yêu cầu. Số tiền lãi sau khi trừ 380.000 đồng là 16.855.000 (Mười sáu triệu tám trăm năm mươi lăm nghìn) đồng.

[2.4] Tổng gốc và lãi yêu cầu ông L, bà T1 phải trả là: 201.855.000 (Hai trăm lẻ một triệu tám trăm năm mươi lăm nghìn) đồng.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch ông L, bà T1 phải chịu là 10.093.000 (Mười triệu không trăm chín mươi ba nghìn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 26, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; các Điều 429; 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Hoàng T. Buộc Ông Trần Phi L và bà Diệp Thanh T1 chịu trách nhiệm liên đới trả cho bà Lê Thị Hoàng T số tiền 201.855.000 (Hai trăm lẻ một triệu tám trăm năm mươi lăm nghìn) đồng, gồm nợ gốc 185.000.000 (một trăm tám mươi lăm triệu) đồng và tiền lãi 16.855.000 (Mười sáu triệu tám trăm năm mươi lăm nghìn) đồng.
  2. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

  3. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch Ông Trần Phi L và bà Diệp Thanh T1 phải chịu là 10.093.000 (Mười triệu không trăm chín mươi ba nghìn) đồng.
  4. H tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm số tiền 4.776.000 (Bốn triệu bảy trăm bảy mươi sáu nghìn) đồng cho bà Lê Thị Hoàng T theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0001045 ngày 01/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Bến Tre.
  • - TAND tỉnh Bến Tre.
  • - Chi cục THADS TP Bến Tre.
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị Xuân Thi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2024/DS-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 60/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa bà Lê Thị Hoàng T với ông Trần Phi L và bà Diệp Thanh T1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger